Trang chủ

Chuyên đề: Trà trong Hán ngữ

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

Trà là đồ uống rất phổ thông ở Việt Nam, còn gọi là (nước) chè. Phần này ghi nhận một cách tổng quát các cách gọi trà khác nhau như mính, dành dành, giả, thiết, suyễn, tuyển, thuấn, sá … và âm cổ hơn của trà là đồ; Sau đó là các dạng từ song tiết như qua lô, cao lô, quá (qua) la, cao hộ .. cho đến rất nhiều dạng từ ghép như du đông, khổ đồ, khổ trà, suyễn trà, trà suyễn, trà mính … Đây là không kể các từ ghép tự nhiên và dễ hiểu hơn như Mạt Lị Hoa trà (Jasmine tea), Hồng trà, Bạch trà, Hoàng trà … Người viết sẽ cố gắng ghi lại các chữ Hán (sau âm Hán Việt) để tiện việc tra cứu về sau, nhất là các bạn đọc muốn tra cứu sâu xa hơn nữa. Tìm hiểu về trà trở nên lý thú không những vì lá trà có hơn 700 chất hoá học, mà còn các cách gọi và dùng trà ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Vấn đề trở nên đặc biệt hơn khi các từ đồ-trà/chà-chè lại có thể liên quan đến ... Xem toàn văn

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Trà là âm Hán Việt (HV) viết bằng bộ thảo hợp với chữ xà 茶 : theo các tài liệu Trung Quốc (TQ) thường giải thích là loại chữ hội ý 会意 kết hợp các chữ nhân 人 (người) gặt hái các lá cây (thảo) 艹 từ trên cây (mộc) 木 (bây giờ viết là 朩). Chữ trà này không thấy trong triện văn, kim văn hay giáp (cốt) văn : điều này chứng tỏ sự ra đời muộn màng của chữ này – có tác giả cho rằng chữ trà xuất hiện từ thời Đường [3] (“Ngữ Lâm Thú Thoại” trang 571) – có tác giả còn cho năm sinh của chữ trà là 725 SCN (xem thêm chi tiết). Một số học giả khác như L. Wieger cho rằng chữ trà gồm bộ thảo và chữ dư (ta) 余 hài thanh (bỏ một nét ngang)(xem thêm chi tiết). Thuyết Văn Giải Tự cũng không ghi dạng trà này. Quả đúng như thế, theo Vận Hội (Khang Hy trích ra) thì trà là

【韻會】茗也。本作荼,或作,今作茶。

[ Vận Hội ] mính dã . Bổn tác đồ , hoặc tác trà , kim tác trà

Hay đồ chính là âm ... Xem toàn văn

Các tên gọi khác của trà và truyền thuyết

Các tên gọi khác của trà và truyền thuyết

Suyễn 荈 là loại trà hái muộn, theo Ngọc Thiên, nhưng Nhĩ Nhã lại ghi nghĩa hơi khác hơn (hái sớm là đồ, trễ là mính – nhưng đều gọi là suyễn). Theo Đường Tân Thư Bản Thảo, gọi tắt là Bản Thảo soạn vào đầu thời Đường, có ghi nhận tuyển (選 xuăn BK) là một tên gọi của đồ – đây có thể là một dạng của suyễn (biến âm s-t). Tương tự như vậy, một số tài liệu như Phương Ngôn, Quốc San Thuấn Trà 国山蕣茶 (một truyện cổ Giang Nam nổi tiếng), cũng ghi một tên gọi trà là thuấn (shùn BK, Unicode 8563) cũng có một thành phần hài thanh là suyễn 舛

《玉篇》 槚,苦荼 – 《爾雅》。晉·郭璞:“早采者爲荼,晚取者爲茗,一名荈蜀人名 之苦茶”

“Ngọc Thiên” mính, khổ đồ . “Nhĩ Nhã” . Tấn – Quách Phác : “tảo thải giả vi đồ, vãn thủ giả vi mính, nhất danh suyễn. Thục nhân danh chi khổ trà” . Quách Phác (276-324) là học giả và sử gia nổi tiếng đời Tấn; Để ý câu cuối của ông ghi chú ‘ … Người Thục gọi là khổ trà …’.

Một nhận xét thêm về thuấn : thường chỉ chi dâm (râm) ... Xem toàn văn

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân đài loại ngữ (VĐLN) viết về trà trồng trên núi Am Thiền, Am Giới, Am Các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá nước ta… Uống vào mát tim, phổi, giải khát, ngủ ngon … Hoa, nhị chè có hương thơm tự nhiên

VĐLN cũng trích Trà Kinh [7] ” … trà là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành) …”. Nhận xét của Lê Quý Đôn cũng khá phù hợp với lời ghi nhận trong ” Đồng Quân Thái Dược Lục ” 桐君采藥錄: một tác phẩm cổ đại về Trung y, trích Trà Kinh, Trà Sự (chương 7)

… Hựu nam phương hữu qua lô mộc , diệc tự mính , chí khổ sáp , thủ vi tiết trà , ẩm diệc khả thông dạ bất miên . Chử diêm nhân đãn tư thử ẩm , nhi Giao Quảng tối trọng , khách lai tiên thiết , nãi gia dĩ hương mạo bối ….

(Tạm dịch) Còn phương Nam có cây qua lô – cũng giống như trà (mính) rất đắng chát, nghiền thành mạt (bột) trà, uống thì suốt đêm không ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề