Trang chủ

Chuyên đề: Trà Việt - CHÂN

Nghệ thuật gốm trà Việt Nam

Nghệ thuật gốm trà Việt Nam

Việt Nam đã biết đến trà thời Ðông Hán, nhưng trà đạo Việt thành hình vào đời nhà Ðường, theo các nhà sư Phật giáo và Giao Châu. Sách Trà Kinh của Lục Vũ nhập đề rằng “trà là loài cây lớn ở phương nam”. Chứng tích trà đạo Việt còn lưu lại trên những bình bát trà gốm Việt Dao từ thời bắc thuộc, lên đến tột đỉnh thời Phật giáo Lý, Trần. Ðạo trà Việt cổ là đạo mà không đạo, đạo vô môn quan: không cửa vào, không lối ra.

Tương truyền Bồ Ðề Ðạt Ma từ Tây Trúc sang Tàu chín năm ngồi ẩn trong hang thiền định. Mắt sụp xuống buồn ngủ, ông cả giận bứt mi mắt vất xuống đất, chỗ ấy mọc thành cây trà đầu tiên. Chuyện hoang đường này cốt đồng hóa trà cho sự thức tỉnh Ðịnh Huệ. Hoa ngữ Ch’a (Trà) và Ch’an (Thiền) nghe đồng âm và đồng nghĩa. Từ đó, trà là bạn người tu thiền như hình với bóng. Tổ thứ sáu thiền Tào Khê là Huệ Năng, tự nhận là người Man di miền Ngũ Lĩnh, xứ của trà.

Lục Vũ là một cuồng sĩ ... Xem toàn văn

TRÀ biểu tượng của Văn hóa giao tiếp Phương Đông

TRÀ biểu tượng của Văn hóa giao tiếp Phương Đông

Từ apelsin (quả cam) trong tiếng Nga bắt nguồn từ tiếng Hà Lan appelsien (quả táo tàu). Các dân tộc khác nhau ở châu Âu cũng gọi là quả táo tàu (tiếng Đức: Chinaapfal. Tiếng Pháp: Pomme de chine). Điều đó cũng dễ hiểu, bởi cây cam được Bồ Đào Nha đem về châu Âu vào năm 1548 từ Trung Quốc, Philíp Bỉnh, một tín đồ Thiên chúa giáo người Việt Nam, năm 1976 đến Bồ Đào Nha và sống ở đó hơn 35 năm, đã để lại những dòng hồi ký rất thú vị, lấy tên là “sách số sang chép các việc”, có ghi: “Cam thì giống bởi nước Đại Minh (Trung Quốc) mà đem về, song phương Tây để blồng (trồng) thì hoa ra lắm vì chém ngành mà cắm xuống đất liền mọc rễ tức thì, cũng chẳng có sâu đục cây như cam nước ta”.

Lịch sử giao lưu giữa văn hóa châu Âu với văn hóa của các dân tộc vùng Viễn Đông chứng tỏ rằng, ở châu Âu những thế kỷ trước không những đã nắm vững rất sớm cách trồng trọt những loại cây ăn quả mới, chưa từng thấy, đem về ... Xem toàn văn

Tạp chí Văn Hóa Doanh Nhân / Trà Bạch Hạc – Cảm nhận sự thuần khiết của thiên nhiên và con người

Tạp chí Văn Hóa Doanh Nhân / Trà Bạch Hạc – Cảm nhận sự thuần khiết của thiên nhiên và con người

Dọc đất nước Việt Nam trà tồn tại đa dạng, nhất là hương-vị của nó, tại mỗi vùng với đặc tính khí hậu-thổ nhưỡng khác nhau đã tạo ra những loại trà có hương-vị với sự quyến rũ rất khác biệt. Nhưng hẳn bất kì ai, dù là người am hiểu hay chỉ người dân thôn dã đều đã từng biết đến các sản phẩm trà bắt nguồn từ Tân Cương – Thái Nguyên hoặc thậm chí đã từng tâm đắc với nó. Đặc biệt nhất phải nhắc đến là trà Bạch Hạc – Tân Cương quý vì nó mang trong mình chất đất Thái Nguyên, được nuôi sống bởi thứ nước cội nguồn và niềm đam mê, nhiệt huyết của con người Thái Nguyên chân chất, mộc mạc.

Cuộc trò chuyện giữa tôi với “trà nhân” Việt Bắc về những sản phẩm trà quý vào một ngày mùa thu Hà Nội trong không gian Thưởng Trà Quán đã đưa tôi trở lại câu chuyện về người đầu tiên mang giống trà Bạch Hạc về trồng trên vùng đất bán Sơn-Địa Tân Cương-Thái Nguyên. Ngày đó, cụ Nghè Sổ là người đầu tiên có ... Xem toàn văn

Hương trà Gò Loi

Hương trà Gò Loi

Xưa nay, nhắc đến trà Việt, trong tâm thức dân ta nghĩ ngay đến những cái nôi Thái Nguyên, Hà Giang, Bảo Lộc… Ít ai biết ở đất Hoài Ân xứ Nẫu có một vùng trà Gò Loi một thời vang bóng.

Bén duyên

“Ngày xưa, cam khổ là loại trà quý, là vật dụng tiến của các chúa Nguyễn. Người ta dùng cả hai loại trà cam và khổ để tiến vua”. Vốn mê trà nên khi đọc được mấy dòng ấy trong sách Nước non Bình Định của Quách Tấn, tôi tức tốc đi tìm.

Về đến thành phố Quy Nhơn, hỏi suốt ngày đầu tiên mới được một người mách: Ở vùng Kim Sơn, Vạn Hội, Lạc Phụng núi Chúa thuộc huyện Hoài Ân có hai loại trà mọc hoang dã trên đồi gò, ven chân núi, rất quý hiếm, cho đến nay không dễ ai thuần hóa đem về trồng trong vườn nhà được. Một là trà cam, một là trà khổ. Tôi điện thoại cầu cứu anh Trần Bá Phùng, thư ký tòa soạn báo Bình Định.

Gặp nhau, vừa hỏi trà cam, khổ anh đã hào hứng: “Năm 1997, chính tôi đã được uống ... Xem toàn văn

Tại Thưởng Trà khay chân quỳ được hoàn thiện như thế nào?

Tại Thưởng Trà khay chân quỳ được hoàn thiện như thế nào?

Những chiếc khay chân quỳ tại Thưởng Trà được chế tác với tiêu chí có thể để lại cho những đời sau. Chính vì lẽ đó, gỗ được lựa chọn là lõi gỗ Trắc, gỗ sau khi được lựa chọn sẽ qua quá trình sơ chế xử lý nguyên liệu và giao cho những thợ có tay nghề cao còn nắm rõ nghề mộc cha-ông để lại, qua đôi bàn tay tài hoa của những người thợ mộc những thanh gỗ được xẻ, những mọng gỗ được hình thành, chúng được gép nối một cách tinh tế để tạo ra chiếc khay mộc. Những chiếc khay mộc này sẽ chuyển về Thưởng Trà Quán để hoàn thiện trước khi nó đi đến từng gia đình và mang trên mình những giá trị Văn hóa đề thoát khỏi đời sống của một vật vô tri.

Vậy quy trình hoàn thiện đó ra sao?

Khay được đưa từ xưởng về Thưởng Trà và sau xử lý bề mặt mộc …

Khay đã xử lý bề mặt, rửa sạch, hong khô, được ủ và vệ sinh kỹ lại bằng dấm ăn …

Dùng dầu Oliu và các chất phụ gia ... Xem toàn văn

Ưu Việt Trà

Ưu Việt Trà

Quý vị trà hữu thân kính !

Thưởng Trà Quán xin hân hạnh giới thiệu với quý vị dòng sản phẩm trà thượng hạng mang nhãn hiệu Ưu Việt Trà. Đây là dòng sản phẩm thượng hạng do Thưởng Trà Quán sáng tạo và phát triển.

Hẳn quý vị đều biết rằng các loại trà tốt nhất trên thế giới đều sinh trưởng và phát triển dọc theo triền các con sông đổ xuống từ cao nguyên Tây Tạng. Việt Nam nằm ở sườn phía đông nam của dãy Hy-Mã-Lạp-Sơn nên có được những loại trà nguyên liệu trân quý nhất, vậy mà chúng ta, những người say mê trà lại gặp quá nhiều khó khăn để có được một ấm trà ngon. Không dễ gì tìm được nhãn hiệu trà Việt Nam nào trên thị trường hiện nay đáp ứng được ba yêu cầu giản dị là thơm ngon, chất lượng ổn định, và an toàn cho sức khỏe.

Nguyên nhân của sự phi lý này là do thiếu một mối nối tin cậy giữa người làm-trà-thạo-nghề và khách thưởng-trà-sành-điệu. Làm trà ngon thì đắt công phu, mà thị trường thì tạp nham ai hiểu, ai trả cho xứng với cái ... Xem toàn văn

Trà hương trên đất B’lao

Trà hương trên đất B’lao

Khởi đầu ngày mới với một tách trà hương là thói quen của không ít khách thưởng trà. Sáng tinh mơ, khi sương núi còn la đà trên nhánh cây trước ngõ, pha một ấm trà, hương thơm nhè nhẹ lan tỏa cõi lòng, làm ta thấy nhẹ nhàng, thanh thoát.

Trà B’Lao chế biến theo cách làm trà xanh, phù hợp với thị hiếu uống trà của người Á Đông. Đọt trà tươi hái về, được đem vào lò xào, vò, sấy khô để thành trà mộc. Trà mộc sơ chế này có thể pha nước uống. Nhưng có lẽ, cây trà B’Lao sinh trưởng trong một vùng mưa nhiều, nên hương trà không đượm. Người “đàng trong” lại chuộng trà đượm hương, nên phần lớn trà B’Lao là trà có ướp hương các loài hoa, mà người Việt ưa chuộng như hoa sen, hoa sói, hoa lài. Thỉnh thoảng cũng có người ướp trà hương hoa ngọc lan hay hương hoa mộc, nhưng không mấy phổ biến, chỉ để dùng trong gia đình.

Trà bạch mao hảo hạng ướp hương sen được giới thưởng trà cho là “đệ nhất trà hương”. Có điều, trà hương sen không chế ... Xem toàn văn

Chế biến trà mộc ở B’Lao xưa

Chế biến trà mộc ở B’Lao xưa

Cây trà được người Pháp trồng tại B’Lao từ thập niên 30 của thế kỷ trước. Họ chế biến trà đen để tiêu thụ tại thị trường châu Âu. Đầu những năm 50, tại B’Lao mới có thêm vài người Hoa, người Việt lập đồn điền trồng trà, với qui mô nhỏ. Trà khô được bán thẳng cho thương lái ở Chợ Lớn. Đến khoảng năm 1955 – 1956, nông dân trong các trại định cư bắt đầu trồng trà. Từ đó, trà sơ chế của người dân trong vùng mới bắt đầu xuất hiện tại chợ B’Lao.

Cách chế biến từ trà tươi ra trà khô, gọi là trà sơ chế hay trà mộc, theo kiểu làm trà xanh, xuất phát từ đồn điền Bảo Đại và đồn điền Lê Minh Sanh. Các đồn điền này chế biến trà bằng máy móc bán công nghiệp, có lò xào trà, có máy vò, máy sấy nhập cảng từ Ấn Độ, Tích Lan. Người dân địa phương, vì không có máy móc, họ chế biến trà theo cách của họ. Có lẽ những người chế biến trà tươi thành trà mộc theo phương thức thủ công đầu tiên là người dân ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề