Trang chủ

Khoa Học Trà

Nước để uống trà

Nước để uống trà

1. Để có được nước uống trà cho ra vị không khó, để lên hết vị, hương của trà thì không hề dễ. Nguyên nhân: mỗi loại trà có thành phần khác nhau tùy thuộc mức độ oxy hóa (cách chế biến, tồn trữ…). Người Tàu có câu “nước là mẹ của trà” quả thật không phóng đại tí nào.

Lục Vũ, học giả Tàu thể kỉ VIII có đề cập sơ sơ đến vấn đề này: tức là nước chất lượng cao nhất phải lấy từ nước ở trên núi, nhưng phải là vùng nước tĩnh hoặc ít chuyển động, theo tôi nguyên nhân có thể là do nước ở đây qua bao nhiêu năm thì lượng khoáng đã cân bằng, những phần khoáng cứng thừa đã lắng đọng xuống dưới đáy nên không ảnh hưởng đến chất lượng trà. Loại nước chất lượng xếp sau đó là nước sông nhưng phải là thứ ở giữa sông, thứ gần bờ thì vứt vì rất bẩn. Nước giếng tầm nông chỉ là sự lựa chọn thứ 3. Nước hồ và nước giếng sâu là loại có chất lượng kém nhất. Nói chung nước càng dưới sâu càng chán vì dễ ... Xem toàn văn

Nghịch lý: vườn bỏ đi – vườn giữ lại

Nghịch lý: vườn bỏ đi – vườn giữ lại

Những ngày rồi ở Hà Nội nói riêng và miền bắc nói chung trải qua đợt nắng nóng khủng khiếp. Với những người phải hứng chịu thì không cần mô tả thêm nữa, tả lại há chẳng phải tôi đụng vào vết thương đang đóng vảy của quý vị hay sao?!. Nhưng cái điều tôi sắp trình bày nó yêu cầu tôi phải điểm qua vài con số, mong quý vị thông cảm!.

Đợt nắng nóng đến bảy ngày liên tục, (không tính những ngày chừng trên 30°C) với nhiệt độ trên dưới 40°C, khiến tôi không thể đi liên tục trên một quãng đường chỉ chừng 10km ở Hà Nội. Tôi ghé vào quán nước ven đường. Tất cả mọi người bước vào quán cùng chung một thao tác là kéo áo quá bụng, găm lại trên ngực (tất nhiên trừ phái nữ!) trước khi ngồi xuống ghế của mình, an vị rồi lại cùng chung một hành động … há mồm, nhăn trán, thậm chí lè lưỡi … thở. Tối về, ra hè ngồi, gặp anh cùng khu bước ra khỏi chiếc xe Mercedes đen sang trọng, anh ấy kêu “anh phải chạy lên phòng, khiếp quá”, tôi đáp lời lấy ... Xem toàn văn

Quy trình kỹ thuật hái trà

Quy trình kỹ thuật hái trà

1. Tầm quan trọng của kỹ thuật thu hái.

Búp trà là sản phẩm cuối cùng của trồng trọt, đồng thời là nguyên liệu khởi đầu cho quá trình chế biến, do vậy số lượng búp, năng xuất búp là mối quan tâm của người thu hái, còn chất lượng nguyên liệu, phẩm cấp búp và tiêu chuẩn búp lại liên quan đến trà thành phẩm sau chế biến.

Hái đúng kỹ thuật làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo cho cây trà sinh trưởng khoẻ, bền vững.

Năng suất búp trà có quan hệ chặt với số lá trên cây. Với đặc điểm của cây trà mỗi một búp sinh ra từ một nách lá, do vậy nhiều lá mới có nhiều búp, năng xuất cao. Cho nên hái búp và chừa lá có tương quan chặt đến năng suất trà.

Thu hái búp hàng năm chiếm tới 60% lao động làm trà vì thế có biện pháp thu hái hợp lý không chỉ điều tiết tốt sinh trưởng cây trà, tăng năng suất, chất lượng búp mà còn tăng hiệu quả lao động thu hái.

2. Nguyên tắc hái

Để đáp ứng yêu cầu thu ... Xem toàn văn

Quy trình phòng chống dịch hại tổng hợp sâu bệnh hại trà (IPM)

Quy trình phòng chống dịch hại tổng hợp sâu bệnh hại trà (IPM)

Quy trình phòng chống dịch hại tổng hợp (IPM) là một chiến lược phòng chống sâu bệnh, cỏ dại hại trà mang tính nguyên tắc dựa trên cơ sở sinh thái học, tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà chọn lựa giải pháp tối ưu, nhằm bảo đảm sự ổn định của hệ sinh thái cây trà, an toàn với môi trường và có lợi về kinh tế.

Khi thực hiện quy trình này phải giảm bớt được việc sử dụng thuốc hóa học BVTV trong sản xuất trà nhằm góp phần sản xuất các loại trà không có hoặc có dư lượng thuốc hóa học bảo vệ thực vật dưới ngưỡng cho phép đáp ứng yêu cầu sản xuất trà an toàn.

1. Các dịch hại chính và thiên địch phổ biến trên trà

1.1. Sâu hại chính trên cây trà

Rầy xanh hại trà (Empoasca flaescens Fabr.& E. onukii Mats.), bọ xít muỗi (Helopelthis theivora Waterh.), bọ cánh tơ (physothrips setiventris Bagn.), nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae Niet.), rệp muội đen (Toxoptera aurantii), sâu cuốn búp (Homona coffearia Niet.), sâu róm (Euprotis pseudoconspersa Strand.), sâu gặm vỏ (Arbela dea Swinh), sâu xếp lá (Agriophora rhombata Meyr.).

1.2. Bệnh ... Xem toàn văn

Kỹ thuật cải tạo chè Shan năng suất thấp

Kỹ thuật cải tạo chè Shan năng suất thấp

Hiện nay chè Shan núi cao năng suất thường thấp do:

– Tập quán canh tác cũ, kỹ thuật lạc hậu.

– Chè mất khoảng nhiều do lúc trồng đầu tư không thoả đáng về vật tư và kỹ thuật.

– Chè chưa được đốn, hái và chăm sóc đúng kỹ thuật.

– Đất không được cải tạo theo một quy trình hợp lý, không bón hoặc bón quá ít phân hữu cơ.

– Thiếu hệ thống cây cải tạo đất cung cấp chất mùn, vừa là cây che bóng.

Để nâng cao năng suất các nương chè xuống cấp chúng ta cần có giải pháp đồng bộ các biện pháp cải tạo nương chè sau:

1. Cây cải tạo đất:

Với nương chè thảm thực vật nghèo kiệt:

– Những nương chè mất khoảng cuốc lật theo băng ở những nơi bị mất khoảng trống chưa khép tán: chèm lá nhọn cải tạo đất, chuẩn bị cho quá trình trồng dặm và một phần chất xanh bón cho những cây chè còn lại trên nương chè.

– Thời vụ: Tháng 11-12 cuốc lật.

– Thời vụ gieo: 1/2 đến 25/2.

– Lượng hạt: 7-8kg/ha (chàm lá nhọn).

Trước khi ... Xem toàn văn

Các giống trà lai

Các giống trà lai

1. Giống trà Hùng Đỉnh Bạch

a. Nguồn gốc: Giống Trung Quốc nhập nội năm 2000 – Hệ vô tính.

b. Đặc điểm:

– Hình thái: Cây có tán trung bình, phân cành cao, mật độ cành trung bình, lá ngang. Dài lá  10,6- 13,4 cm, rộng lá 5,6- 5,9 cm, lá hình bầu dục, chóp lá hơi tù, lá dày, màu lá xanh, răng cưa rõ. Búp có màu xanh vàng, non lâu, nhiều tuyết. Trọng lượng búp (1 tôm + 2lá) 0,54 g.

– Sinh trưởng: Cây sinh trưởng khoẻ, mật độ búp khá, trồng ra nương cây có tỷ lệ sống cao. Cây một tuổi có đường kính thân trung bình 0,81cm. Nhân giống vô tính bằng giâm hom có tỷ lệ sống trên 80%, trà 20 tháng tuổi đạt 202,5 kg/ha.

– Hàm lượng nội chất (vụ Hè): Hợp chất thơm (mg/ 100g) 41,52; Tanin 31,44%; Chất hoà tan 41,52%; A. amin (mg/ 100g) 43,09.

c. Mức phổ biến: Giống Hùng đỉnh Bạch được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định công nhận giống tạm thời và trồng khảo nghiệm trên diện rộng theo vùng sinh thái tại các tỉnh Trung ... Xem toàn văn

Các thành phần dược lý trong trà

Các thành phần dược lý trong trà

a. Cafein

Cafein là một hợp chất alcaloid và là chất kích thích chủ yếu trong lá chè. Nói chung alcaloid khó tan trong nước lạnh.

Carfein có tác dụng kích thích vở đại não thần kinh trung ương, làm cho tinh thần tỉnh táo minh mẫn, kích thích cơ năng hoạt động của tim, giảm mệt mỏi, kích thích thận, lợi tiểu… hàm lượng cafein biến động theo giống, thời vụ, biện pháp kỹ thuật và bộ phận cây chè. Chất cafein biến đổi rất ít trong quá trình chế biến vì có tính chất bền vững, nhưng liên kết với tanin tạo nên chất tanat cafein, có vị dễ chịu và mùi thơm.

Những năm 1960, nhiều học giả phương Tây đã thí nghiệm tác dụng của một liều lượng lớn cafein trên chuột; kết quả làm trọng lượng thai chuột giảm nhẹ và làm chậm quá trình xương hóa, nên đã gây ra tranh cãi về tác dụng có hại của cafein. Nhưng liều lượng quá lớn về cafein dùng trong thí nghiệm đó tương đương với một người uống 50-150 chén trà/ngày. Liều lượng uống cafein an toàn cho một người nặng 50-60kg là 2000-2400 mg/ngày; ... Xem toàn văn

Các thành phần dinh dưỡng trong trà

Các thành phần dinh dưỡng trong trà

Các thành phần dinh dưỡng trong trà gồm có axit amin, vitamin, chất khoáng, hydratcarbon, protid và lipid.

a. Axit amin

Thành phần chủ yếu của tổ chức tế bào con người là protid; trong đó axit amin là đơn vị cấu thành của protid. Có tới 25 loại axit amin trong cơ thể con người, trong đó có 8 loại mà cơ thể con người không thể tổng hợp được, phải dựa vào nguồn thức ăn bổ sung bên ngoài.

Hàm lượng axit amin tự do trong trà là 2-5%. Axit amin có tác dụng sinh lý tốt với con người như trợ tim, lợi tiểu, nở giãn huyết quản…

b. Vitamin

Vitamin là một hợp chất hữu cơ rất cần thiết cho quá trình trao đổi vật chất trong cơ thể con người. Đó là một loại coenzym tham gia thành phần dinh dưỡng như protid, lipid, glucid. Tuy cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, nhưng con người không thể tự tạo ra được mà cần phải lấy bổ sung từ thực phẩm cung cấp bên ngoài.

Trong lá chè tươi có nhiều loại vitamin hòa tan trong lipid và vitamin hòa tan trong nước. Vitamin hòa tan trong ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề