Trang chủ

Khoa Học Trà

Phát hiện công dụng mới của trà với tim mạch

Phát hiện công dụng mới của trà với tim mạch

Hội nghị Tim mạch quốc tế mới đây diễn ra tại Paris – Pháp đã đề cập đến các tác dụng tuyệt vời của trà đối với sức khỏe và công bố nhiều công trình nghiên cứu mới về trà đối với tim, cũng như các chứng bệnh tim mạch…

Những công dụng tuyệt vời của trà

Lâu nay tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều kinh nghiệm dân gian và công trình nghiên cứu khoa học khẳng định, trà có tác dụng tốt đối với sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật như chống lão hóa, chống nhiễm xạ, ung thư, hạn chế béo phì, mỡ máu, đái tháo đường týp 2, các chứng bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não… Các nghiên cứu này đã được công bố, truyền thông rộng rãi và được mọi giới quan tâm, thực hành. Đối với nhiều dân tộc trên thế giới thì trà là một loại thức uống khá phổ thông, mang nét văn hóa truyền thống, có hương vị thơm, được trồng khá phổ biến lại rẻ tiền và không độc hại… Chính vì vậy, trà là một đối tượng nghiên ... Xem toàn văn

Tác dụng của Trà xanh

Tác dụng của Trà xanh

Trà là một thức uống quen thuộc của nguời Việt chúng ta và là một dược thảo lâu đời. Gần đây khoa học phương Tây lại biết thêm nhiều dược tính của trà, mà mẹ tôi hay gọi là chè. Thông lệ mỗi sáng của cụ là đặt ấm nước để pha trà và hưởng hương vị thanh tao của chén trà buổi sáng, trước khi bắt tay vào công việc trong ngày.

Trà là môt thức uống đã có từ gần 5 ngàn năm nay, bắt đầu từ đời vua Thần Nông [1]. Thọat đầu, người Trung Hoa dùng trà như một dược thảo trong việc ngăn ngừa và trị liệu một số bệnh nhưng đến đời nhà Đường thì trà trở thành một thức uống của giới thượng lưu và quan quyền. Dần dần trà được phổ biến trong dân gian, trở thành thức giải khát thông dụng cho tất cả, từ giầu cho đến nghèo.

Cũng như miếng trầu ngày xưa, trà mở đầu cho câu chuyện giữa khách và chủ nhà và là một món quà không thể thiếu được trong dịp sêu Tết, đám hỏi, đám cưới của người mình. Uống trà còn được xem ... Xem toàn văn

Trà làm tăng cơ hội sống của người bị đau tim

Trà làm tăng cơ hội sống của người bị đau tim

Nghiên cứu mới cho thấy, những người hay uống trà dễ sống sót sau cơn đau tim hơn những người không nghiền nó. Uống 19 tách trà mỗi tuần giảm được 44% nguy cơ tử vong. Tác dụng này là do chất chống ôxy hóa trong trà đem lại.

Các đệ tử của trà (dù là trà đen hay trà xanh, trà nóng hay trà đá) đều ít bị chết trong vòng 3-4 năm sau khi bị cơn đau tim so với những người thích dùng các đồ uống khác. Kết luận này được các nhà khoa học Mỹ đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên 1.900 bệnh nhân ở độ tuổi 60 bị một cơn đau tim. Họ được theo dõi trong vòng 4 năm, bắt đầu khoảng 4 ngày sau tai biến nói trên và được chia làm 3 nhóm:

– Nhóm 1: Không uống trà.

– Nhóm 2: Uống trà vừa phải (dưới 14 cốc/tuần trong vòng 1 năm trước khi bị cơn đau tim).

– Nhóm 3: Uống nhiều (hơn 14 cốc/tuần).

Thống kê cho thấy, bệnh nhân thuộc nhóm 2 thường dùng 2 tách trà/tuần, còn những người thuộc nhóm 3 thường dùng 19 tách/tuần. Sau gần ... Xem toàn văn

Quy trình chế tạo đất tử sa

Quy trình chế tạo đất tử sa

Có thể chia vật liệu chế tác đồ gốm ở vùng Nghi Hưng thành hai loại là đất sét (earth-clay) và tử sa (stone-clay). Mặc dù tử sa có nghĩa là “cát tím”, nhưng sản phẩm gốm chế tạo từ loại vật liệu này không nhất thiết có màu tím như tên của nó.

Trong khi đất sét thường được sử dụng để làm ra các loại đồ gốm từ cấp thấp đến cấp trung, thì tử sa là loại vật liệu quý được dùng để chế tác ra các loại đồ gốm cao cấp, trong đó nổi tiếng nhất là ấm trà tử sa.

Tử sa tồn tại tự nhiên ở vùng Nghi Hưng dưới dạng đá núi. Có ba loại đá tử sa điển hình với màu sắc khác nhau.

Đá tử sa thiên nhiên: ảnh bên phải là tử sa (zisha – purple clay) có màu vàng nâu; ảnh giữa là lam sa (duanni – fortified clay) có màu xanh nhạt; và ảnh trái là chu sa (zhuni – cinnabar clay) có màu đỏ.

Sau khi khai thác từ mỏ, đá tử sa được để ngoài trời trong một thời gian cho quá trình phong ... Xem toàn văn

Các loại chè/trà và công dụng của trà

Các loại chè/trà và công dụng của trà

1. Các loại chè

Trên thế giới có khoảng 3.000 thứ lá cây thường được dùng làm đồ uống hàng ngày. Thế nhưng từ khi trà trở nên phổ biến thì những loại đồ uống bằng lá cây nói chung thường đều được gọi là trà (tea). Ví dụ, trà Pháp là cây đan sâm; chè Mỹ, chè Mactinic là cây thuộc họ Hoa mõm chó; chè Brazin và chè Paragoay là cây nhựa ruồi Paragoay; chè Mêhico là cây chân ngỗng (chenopodium ambrosioides) thuộc họ rau muối; chè Mông Cổ là cây tai hổ; chè châu Âu là cây huyền sâm (Veronica officinalis); chè Phông-ten-nơ-blô là cỏ hạt ngọc (Lithospermum officinalis). Việt Nam có chè vối, chè dây hoặc chè Hoàng Giang (còn gọi là chè Trường Sơn), chè vằng, chè hàng rào, chè đồng, chè cay… [Đặng Hanh Khôi 1983: 4-5].

Chè chính hiệu có tên khoa học là Camellia sinensis cũng có tới 9 loại. Trong đó có 3 giống chính: Chè Assam (Ấn Độ): lá to, dài tới 20cm, thân lớn, cao tới 18-20m. Chè Đông Dương: cây cao 5m, lá dài tới 7,6cm. Chè Trung Quốc ở phía Bắc thì cây nhỏ hơn (chỉ cao ... Xem toàn văn

Nguồn gốc và Chủng loại

Nguồn gốc và Chủng loại

1. Nguồn gốc

Nhiều công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm. Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè để làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống. Cũng theo các nguồn tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta nằm trong vùng nguyên sản của giống chè tự nhiên trên thế giới.

Năm 1823 R.Bruce phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải là ở Trung Quốc. Trong tất cả các tài liệu gần đây hầu như không thấy có sự nhất quán nêu lên về nơi xuất xứ của cây chè. Chúng ta biết rằng muốn xác định vùng nguyên sản của một cây trồng cần căn cứ vào những điều kiện tổng hợp, trong đó cây dã sinh chỉ là một điều kiện mà chủ yếu là cần ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề