Trang chủ

Trà Ẩm (Trà Kinh – P7)

Trà Ẩm (Trà Kinh – P7)

Ba giống: có cánh biết bay, có lông biết chạy, có miệng biết nói, thảy sinh trong vòm trời đất, cậy việc ăn uống mà giữ lấy sinh cơ, mới hay cái nghĩa lý của sự uống đã dài lâu lắm rồi! Đến như loài người, muốn đỡ khát thì uống lấy nước, muốn tiêu sầu thì uống lấy rượu, còn muốn tỉnh mộng mê thì uống lấy trà.

Trà làm thức uống, khởi từ Thần Nông thị [47], truyền bởi Lỗ Chu công; Tề có Án Anh [48]; Hán có Dương Hùng, Tư Mã Tương Như [49]; Ngô có Vi Diệu [50]; Tấn có hội Lưu Côn [51], Trương Tải [52], viễn tổ Nạp [53], Tạ An [54], Tả Tư [55], đều là những người ham uống trà. Thấm thời nhuần tục, thịnh ở quốc triều, vùng lưỡng đô [56] và hai đất Kinh, Du [57], dân chúng coi trà là thức uống trong nhà.

Trà có trà thô, trà tán, trà mạt, trà bánh. Các phép chặt, đun, sấy, giã, sau cất vào bình, vào phẫu, khi uống thì đem nước sôi ra chần trà, thời gọi đó là phép yểm trà. Hoặc có kẻ dùng hành, gừng, ... Xem toàn văn

Trà Tân Cương Thái Nguyên

Trà Tân Cương Thái Nguyên

Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên chừng 13km về phía Tây, Tân Cương là vùng đất bán sơn địa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, những dãy đồi thoai thoải về hướng mặt trời lặn, dân địa phương gọi là núi Thằn Lằn. Bắt nguồn từ những cánh rừng trên núi, các con suối róc rách men theo những chân đồi chảy về tưới mát cả vùng trà đặc sản nổi tiếng.

Nơi đây đồi liền đồi, hương trà tươi nồng nàn không gian. Người dân mê mải với công việc thường nhật, hái trà như múa, sao-vò như ảo thuật. Nhờ sự khéo léo, thuần thục đó mà nhiều người được tôn vinh là nghệ nhân.

Trà Thái Nguyên không hẳn vùng nào cũng giống nhau, vùng nào cũng ngon. Đã từ lâu, giới thưởng trà truyền tụng về một địa danh làm trà – Tân Cương. Trà vùng này nhờ ông Ðội năm (tên thật là Vũ Văn Thiệt) theo sự tổ chức của cụ nghè Phạm Đình Tuân lên Bạch Hạc mang giống trà về trồng mà có, rồi lại nhờ ông đội năm mở đồn điền trồng trà và chế biến thành những gói trà ... Xem toàn văn

Uống trà

Uống trà

Buổi tối, từng nhóm học viên thường quây quần bên nhau uống trà. Trong phòng, ở hành lang hay giữa vườn hoa. Sau một ngày dài lao động học tập, đây là phút giây thư giãn tuyệt vời bên ấm trà nóng.

Tối nay cũng vậy, chúng tôi ngồi bên ấm trà, bình luận rôm rả về trận bóng của tuyển VN đang trực tiếp trên truyền hình. Bỗng có đứa chép miệng: “Thằng An mà còn ở đây, nó bình luận trận này hay phải biết…”. Tự nhiên không khí chùng xuống, im lặng. An đã qua đời tháng trước vì AIDS. Có mấy tiếng thở dài buông nặng… “Nó mới được đi phép thưởng, sắp có quyết định hồi gia rồi còn gì, vậy mà không kịp… Thử hỏi năm năm phấn đấu của nó có vô nghĩa không?”.

Có vô nghĩa không? Câu hỏi kéo dài thêm một khoảng lặng, hình như mỗi người đang tự hỏi lại mình. Chén trà chuyền tay có phần chậm lại, hương trà nhẹ nhàng lan tỏa… Giọng ai đó từ tốn: “Làm sao vô nghĩa được, năm năm ở đây tuy dài nhưng chúng ta đã không còn là những ... Xem toàn văn

Tri âm qua một chén trà

Tri âm qua một chén trà

Ở Việt Nam, việc uống trà được coi như là một nghệ thuật, mà những dân tộc tự hào có trà đạo từ lâu đời cũng phải suy ngẫm, bởi cái cốt lõi không phải là nghi thức, mà là sự cảm nhận tinh tế, vi diệu bằng tất cả các giác quan, cảm nhận được tinh túy của đất trời.

Việt Nam ta có rất nhiều loại trà ngon nổi tiếng đã được khẳng định theo thời gian như: trà Tân Cương, trà Shan Suối Giàng, trà Shan Tà Xùa, trà lục Mai Châu… và cái thú thưởng trà sao mà tao nhã, cao quý!

Ta hãy cùng đọc lại mấy câu thơ của cổ nhân:

“Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng” (Ngôn chí 2 – Nguyễn Trãi). Thử hỏi có mấy ai thưởng trà được như vậy. Thiên nhiên – con người và trà như đồng điệu trong mối giao hòa Thiên–Địa–Nhân sâu sắc.

“Chè tiên nước kín nguyệt đeo về” (Thuật hứng 3 – Nguyễn Trãi). Trăng náu mình trong bình nước, nhà thơ đeo về để pha trà tiên. Chỉ một chén trà đã nâng hồn người bay bổng, trà và cảnh với con người hòa quyện, tương giao, đồng ... Xem toàn văn

Tản mạn chè chén vỉa hè

Tản mạn chè chén vỉa hè

Chè chén là thức uống bình dân và phổ biến ở Hà Nội. Nhiều người bảo khách phương xa về thăm Thủ đô mà chưa ngồi vỉa hè uống chén nước chè thì coi như… chưa đến Hà Thành. Bởi chè chén ở đây có cái gì đó vừa gần gũi, thân quen, vừa mang nét riêng đặc trưng của đất Tràng An.

Chè chén vỉa hè có xuất xứ từ quán nước gốc đa ở ven những tỉnh lộ thời xưa, thường bán nước chè tươi và nước vối nóng. Theo thời gian cũng có chút thay đổi. Gọi là quán nhưng chỉ có cái bàn con con tự chế bằng gỗ, vài chiếc ghế nhựa, dăm, bảy cái chén, một ấm tích pha chè, hộp kẹo, phích nước sôi… cùng chiếc điếu cày làm bằng tre lên nước bóng lộn. Những quán như thế dần dần xuất hiện khắp các hè phố Hà Nội, ở bến tàu, bến xe, gần các xí nghiệp, trường học, bệnh viện, chung quanh những khu phố chợ và trở thành loại ‘quán giải khát’ của mọi người. Ở đây, ranh giới về tuổi tác, sự khác biệt về nghề nghiệp, vị trí ... Xem toàn văn

Nâng chén trà, nhớ Hà thành xưa …

Nâng chén trà, nhớ Hà thành xưa …

Hà Nội sáng. Dòng người cuồn cuộn lao đi trên đường. Trà đá đã tấp nập. Hà Nội trưa. Rồi Hà Nội tối. Trà đá lúc nào cũng tíu tít. Có thách vàng, người ta cũng không tìm được vài trăm mét phố nào ở đất này thiếu trà đá.

Người Việt có tục uống trà từ lâu đời. Người Hà Nội nâng nó lên thành nghệ thuật. Đọc lại “Vũ trung tùy bút” của cụ Phạm Đình Hổ, ta cũng biết rằng, quãng hai trăm năm về trước, cách thưởng trà của người Việt đã cầu kỳ lắm. Riêng về trà cụ (dụng cụ pha trà), có gia đình sẵn sàng bỏ cả mấy chục lạng bạc mua cho được những bộ ấm quý. Nhà văn Nguyễn Tuân, trong một tác phẩm trước những năm 1945 lại kể rằng: Có kẻ ăn mày ghé vào một gia đình giàu có, nhưng hắn không xin cơm, mà xin một ấm trà. Khi uống xong, kẻ hạ tiện kia cả gan chê trà của nhà quyền quý không ngon. Gia đình quyền quý vốn tự hào về sành trà cả giận, nhưng rồi đã giật nảy mình về khả năng thưởng trà ... Xem toàn văn

Trà ướp hương hoa Sói

Trà ướp hương hoa Sói

Ngày còn đi học, đạp xe trên con dốc Thánh Tâm, hương trà ngập tràn không gian ngay từ sáng sớm, lẫn trong màn sương lành lạnh có vị nồng nồng , ấm ấm, cay cay của các loài thảo dược trong bài thuốc bắc ướp trà, nhưng nhiều nhất là hương ngan ngát thơm nhẹ của hoa sói, loài hoa chỉ có vùng Thánh Tâm- Tân Hà trồng để ướp trà. Trước khi mặt trời lên, mà mặt trời ở Bảo Lộc vốn lên muộn lắm, phải hái hoa sói vừa nở, trên một nhánh hoa ở đầu ngọn lá, những bông sói vừa nở nhỏ và trắng như hạt gạo nếp, nhè nhẹ tỏa hương trộn vào không gian, chỗ nào cũng thoang thoảng hương thơm, cứ như mùi hương của đất trời có sẵn vậy,

Khi ánh nắng lên một lúc, sương tan hết thì hoa sói cũng tỏa hết hương, nếu không ủ vào trà , chỉ một lúc, các bông sói dần dần đen thẫm lại, rồi rụng mất, còn trơ lại cuống hoa màu xanh lá. Cả một đời hoa sói tồn tại trong mấy tiếng đồng hồ, nhưng ngần đó thời gian cũng ... Xem toàn văn

Trà đào

Trà đào

Tôi trở lại Lộc Hà tìm gặp Nương và tìm lời giải đáp đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau con người lạ lùng ấy. Nương có phải là “yêu nữ” như cách gọi của ông chủ trà thất Kissa, hay là “Trà Đào” như cách tôi vẫn hằng gọi?

Lúc đến trà thất Kissa, chủ nhân đã đi đâu đó. Tôi đẩy cánh cổng bước vào bên trong vì biết rằng nó luôn để ngỏ. Trà thất có hai gian chính, một nằm ở trên cao làm toàn gỗ gọi là gian mộc và gian kia thấp hơn xây bằng gạch gọi là gian thổ. Hai gian cách nhau qua một hồ nước nhân tạo trồng nhiều hoa. Trong nhiều loài hoa có hoa bèo.

Tôi nằm dài trên chiếc chiếu trong gian thổ, đầu gối lên chính chiếc tọa cụ mình vẫn thường ngồi uống trà, và nghĩ về Trà Đào. Một người đi từ trên dốc xuống, còn người kia thì ngược từ dưới lên; thoáng nhìn nhau; chợt nhận ra một điều gì đó, lại nhìn nhau; rồi bước qua nhau. Đến khi thấy tiếc nhớ cái gì mơ hồ vừa thoáng qua, quay lại ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề