Trang chủ

Thiền trà Làng Mai

Thiền trà Làng Mai

Thiền trà là một pháp môn thực tập rất thi vị của Làng Mai. Thiền trà Làng Mai có hai cách, thiền trà nghi lễ và đại thiền trà. Thiền trà nghi lễ là thiền trà có giới hạn số lượng người tham dự (khoảng mười sáu người tới hai mươi người). Còn đại thiền trà là thiền trà dành cho một đại chúng lớn, số lượng có thể rất đông có thể hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người tham dự.

Nguồn gốc của thiền trà Làng Mai:

Vào những năm 1985, 1986, khi mới thành lập Làng Mai, lúc đó sức khỏe của Sư Ông còn rất dồi dào và thiền sinh tới tu tập chưa đông như bây giờ. Thời ấy, thiền sinh nào có khó khăn đều được tham vấn riêng với Sư Ông. Sau đó, pháp môn lan rộng, càng ngày thiền sinh tới tu tập càng đông, lúc đó Sư Ông không thể tiếp riêng từng vị được nữa, nên Sư Ông mới nghĩ ra cách tổ chức một buổi ngồi chơi, uống trà với từng nhóm thiền sinh. Mỗi nhóm khoảng từ mười tới mười sáu người. Như vậy, cùng lúc Sư Ông ... Xem toàn văn

Trà ướp hương Lài

Trà ướp hương Lài

Hoa Lài vốn là loài hoa có thể trồng khắp từ nam chí bắc, ở Bảo Lộc cũng trồng được hoa lài và trở thành loài hoa quen thuộc của ngành trà hương, nhưng đất đỏ badan Bảo Lộc dù rất phù hợp với hoa sói, vẫn không ưu đãi cho hoa lài. Cây hoa lài trồng ở Bảo Lộc khá tốt, cành lá xum xuê, cho nhiều bông nhưng bông nhỏ, không mấy người dùng ướp trà, vì ít hương và nở muộn hơn hoa lài trồng ở vùng nóng.

Hoa lài dùng ướp trà phải mua từ An Phú Đông, Hóc Môn, Gò Vấp. Ngày trước, việc vận chuyển về không dễ, hái hoa còn nụ lúc sáng sớm, phải ủ vào trà khi hoa vừa chớm nở lúc sáu bảy giờ tối, vì vậy , người ướp trà phải thuê hẳn một chiếc taxi mới đưa hoa về kịp, đúng là nghề nào cũng có những gian nan cả. Ngày nay, phương tiện giao thông thuận tiện, chỉ ba bốn giờ chiều là hoa lài đã có mặt ở những điểm phân phối ở Bảo Lộc, chỉ cần gọi điện thoại là có hoa lài đưa đến ... Xem toàn văn

Hương trà phố núi B’Lao

Hương trà phố núi B’Lao

Buổi chiều, trong ánh tà dương còn sót lại trên đỉnh B’nom Dơi, từ ngọn đồi ven sườn phía đông của đèo Bảo Lộc, ngồi trong gian lều cỏ, lặng nhìn màn sương núi lãng đãng, đang từ từ giăng chung quanh, nghe hơi lạnh của trời đất, của núi đồi, của cây cỏ, đang từ từ len vào tâm tưởng, mới thấy cái quí giá của khí hậu mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất phía nam Tây Nguyên này, khí hậu ấy có lẽ thích hợp với người lớn tuổi và với cây trà.

Trải tầm mắt về phía dưới, thành phố Bảo Lộc thấp thoáng sau những đồi trà xanh ngắt, đó đây, vài ngôi biệt thự với màu tôn xanh , đỏ như những điểm chấm phá trên nền trời mờ mờ của giải ráng chiều, chiếu trên đám mây núi đang lũ lượt tụ về quanh đỉnh Sapung.

Màu xanh của núi rừng, màu xanh của đồi trà chập chùng trải dài, làm lòng người dịu lại, làm con người thấy mình hòa lẫn vào thiên nhiên, thoảng đâu đây trong gió núi, mùi hương ngan ngát, nồng nồng của hoa trà bay về ... Xem toàn văn

Trà chử (Trà Kinh – P6)

Trà chử (Trà Kinh – P6)

 

Phàm sấy trà, chớ nên sấy nơi có gió, có tro. Chỗ ấy ngọn lửa chập chờn, khiến nóng lạnh chẳng được đều vậy. Sấy phải gần lửa, lật giở nhiều lần, đợi khi mặt trà nổi sần, hình như lưng cóc, thì sau đấy mới sấy cách lửa năm tấc. Lá trà co rồi ruỗi thì sấy lại như phép ban đầu. Nếu là trà hong lửa, thì khi hơi nước bốc lên là được; còn là trà hong nắng thì khi trà mềm mại thì thôi.

Thoạt đầu, giả như trà quá non, sau khi chưng chín thì đem giã nóng, lá tuy nát mà nõn búp hẵng còn, dẫu cậy sức lực sĩ, giã chày ngàn cân cũng khó mà làm nó nát cho được. Tựa như đem đấu quét sơn mà đong lấy hạt châu, người tráng sĩ có chạm vào nó, cũng chẳng thể nào giữ nó ở ngón tay cho chắc. Trà sau khi giã xong, thì tựa hồ như không còn thân cốt. Lúc ấy sấy trà, thì đốt nó mum mũm như cánh tay con trẻ. Sấy xong, nhân trà nóng mà đem túi giấy trữ lại, ngõ hầu cho cái ... Xem toàn văn

Lịch sử và xuất xứ của ba loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

Lịch sử và xuất xứ của ba loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

Ấm Mạnh Thần

Trong 3 hiệu Thế Đức, Lưu BộiMạnh Thần, ấm Mạnh Thần có niên đại lâu đời nhất, tác giả là Huệ Mạnh Thần ở Kinh Khê, Nghi Hưng, Giang Tô, không rõ năm sinh năm mất. Đại khái thời của ông là vào buổi cuối Minh đầu Thanh, khoảng từ đời Thiên Khải (1621-1627) vị vua áp chót của nhà Minh tới đời Khang Hy (1662-1722) nhà Thanh. Hiện nay tại Thính Tuyền Sơn Quán ở Trung Quốc còn giữ một ấm trà làm bằng đất sét trắng, lạc khoản (tên hiệu, niên hiệu đề dưới trôn đồ gốm sứ) ghi 11 chữ “Thiên Khải Đinh Mão niên Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, từ đó phần nào làm sáng tỏ đối với họ tên, nguyên quán và thời đại sinh sống của ông.

Hai chữ Kinh Khê trong lạc khoản là chỉ nguyên quán, nguồn gốc như sau: Nghi Hưng thời xưa gọi là Kinh Ấp, đến năm Ung Chính thứ 3 đời Thanh, tách làm hai huyện Nghi Hưng và Kinh Khê, năm 1912 thời Dân quốc đã ... Xem toàn văn

Trào lưu làm giả ấm Tử Sa những năm đầu thế kỷ XX

Trào lưu làm giả ấm Tử Sa những năm đầu thế kỷ XX

Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến, thời đại mới manh nha và cũng là thời kỳ đặc biệt của ngành làm ấm trà Tử Sa. Vào những năm Dân quốc đầu tiên ở Trung Quốc, rộ lên phong trào sưu tập đồ sứ cổ, người từ bốn phương tranh nhau mua vét, thủ giữ làm của riêng, đặc biệt là những ấm trà Tử Sa do các nghệ nhân tên tuổi ở vào hai triều Minh – Thanh chế tác. Nguồn hàng từ giới buôn bán cổ ngoạn ngày càng hiếm hoi, phát sinh việc làm giả ấm Tử Sa tràn lan đến không còn kiểm chứng nổi.

Tại các thành phố mà ngành thương nghiệp phát triển mạnh lúc bấy giờ như Thượng Hải, Hàng Châu và Thiên Tân, xuất hiện rất nhiều cửa hàng kinh doanh ấm Tử Sa, họ lùng kiếm thuê mướn các nghệ nhân tay nghề xuất sắc của Nghi Hưng chế tạo, sản xuất ấm Tử Sa chất lượng cao cho thương hiệu của mình. Những sản phẩm này làm ra để bán cho những người sành uống trà, vì ... Xem toàn văn

Nghệ nhân Tử sa Xưa và Nay

Nghệ nhân Tử sa Xưa và Nay

Cho đến bây giờ, các tài liệu sách vở đọc được đều cho biết, Cung Xuân là người sống qua hai triều vua Gia Tĩnh, Chính Đức đời Minh đã khắc dấu ấn tên mình lên chiếc ấm Tử sa đầu tiên. Thành công này đã gây men cho một thế hệ nghệ nhân nổi lên vào triều Vạn Lịch nối tiếp, gồm có: Đổng Hàn, Triệu Lương, Nguyên Sướng và Thời Bằng. Tác phẩm của Triệu Lương, Nguyên Sướng và Thời Bằng mang phong cách cổ sơ của Cung Xuân, riêng Đổng Hàn là người đầu tiên sáng tạo ra dòng ấm dạng hoa trám trang nhã mà tinh xảo vô cùng.

Sau “Tứ đại danh gia” là đến thời của các nghệ nhân: Lý Mậu Lâm giỏi làm ấm tròn, nhỏ; thoạt nhìn không thấy đẹp nhưng quan sát kỹ thì cấu tứ cực kỳ tinh tế, ông đã có những cải tiến quan trọng ở công đoạn nung ấm Tử sa. Thời Đại Bân là con của Thời Bằng, nhưng tài nghệ có phần vượt trội cha mình, ông là nhà chế tác ấm Tử sa nổi tiếng chỉ sau Cung Xuân. Thời của ông xuất ... Xem toàn văn

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân đài loại ngữ (VĐLN) viết về trà trồng trên núi Am Thiền, Am Giới, Am Các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá nước ta… Uống vào mát tim, phổi, giải khát, ngủ ngon … Hoa, nhị chè có hương thơm tự nhiên

VĐLN cũng trích Trà Kinh [7] ” … trà là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành) …”. Nhận xét của Lê Quý Đôn cũng khá phù hợp với lời ghi nhận trong ” Đồng Quân Thái Dược Lục ” 桐君采藥錄: một tác phẩm cổ đại về Trung y, trích Trà Kinh, Trà Sự (chương 7)

… Hựu nam phương hữu qua lô mộc , diệc tự mính , chí khổ sáp , thủ vi tiết trà , ẩm diệc khả thông dạ bất miên . Chử diêm nhân đãn tư thử ẩm , nhi Giao Quảng tối trọng , khách lai tiên thiết , nãi gia dĩ hương mạo bối ….

(Tạm dịch) Còn phương Nam có cây qua lô – cũng giống như trà (mính) rất đắng chát, nghiền thành mạt (bột) trà, uống thì suốt đêm không ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề