Trang chủ

Văn hóa uống trà xưa và nay của người Việt

Văn hóa uống trà xưa và nay của người Việt

Uống trà là nét văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Ngày xưa trà chỉ được dùng trong lớp quyền qúy cao sang. Tác phong mời trà một cách cung kính, nâng tách trà bằng hai tay tỏ ra rất thanh tao lịch lãm. Qua cung cách này người được mời có thể thấy được phần nào cốt cách sống và hiểu phần nào chịu ảnh hưởng gia phong của người mời trà. Trước khi uống người ta nhẹ nhàng đưa tách trà lên thưởng thức hương trà rồi từ tốn nhấp từng ngụm nhỏ để thưởng thức vị ngon của trà. Từ chất lượng của tách trà người uống sẽ thấy được cái tâm, cái tình của người đã pha chung trà .

Trà không chỉ là một thức uống mang đậm bản sắc văn hóa mà có gía trị liệu pháp, giúp cho máu huyết lưu thông, lợi tiểu, có khả năng chống ung thư, tiêu độc, điều hòa huyết áp… Trước đây trà chỉ phổ biến ở một số nước Châu á như ở Ấn Độ, Srilanca chỗ nào cũng trồng trà để cung cấp cho người bản địa và cả cho xuất khẩu. ... Xem toàn văn

Bản sắc trà Thái

Bản sắc trà Thái

1. Lý do chọn đề tài.

Nói đến văn hóa ẩm thực Việt Nam, người ta không chỉ nói về sự đa dạng trong các cách thưởng thức món ăn hàng ngày của người Việt, và các cách chế biến đến nguyên liệu của món ăn ra sao mà cách uống cũng có nhiều sự quan tâm đến lạ kì! Uống là một nhu cầu cần thiết của con người nhằm duy trì sự cân bằng trọng lượng cơ thể, đảm bảo nước cho sự phát triển của con người, người ta có thể nhịn ăn ba ngày nhưng không thể không uống nước được. Trong cách uống của người Việt Nam, phải kể đến cái thú uống chè (trà) là một cái thú có từ lâu trên đất nước ta, cho đến nay nó vẫn là một trong những điểm nổi bật trong văn hóa ẩm thực của dân tộc.

Cái thú uống nước chè để bắt đầu câu chuyện, bắt đầu của một ngày mới, trong những buổi làm đồng áng vất vả có chén trà xanh, rồi lãng mạn cao hứng thì vừa uống trà vừa ngâm thơ, âu đó là một cái nét đẹp trong cách ... Xem toàn văn

Trà khí (Trà Kinh – P5)

Trà khí (Trà Kinh – P5)

Phong lư (lò ba chân) : Đúc bằng đồng hoặc sắt, như hình cổ đỉnh. Dày ba phân, mép rộng chín phân, bề trong sáu phân rỗng, quết bằng bùn đất. Lư có ba chân, thảy viết hai mươi mốt chữ cổ. Một chân viết rằng: “Khảm thượng Tốn hạ Ly vu trung” (quẻ Khảm trên, quẻ Tốn dưới, quẻ Ly ở giữa); chân khác lại viết: “Thể quân ngũ hành khứ bách bệnh” (cơ thể cân bằng ngũ hành thì tiêu trừ được trăm bệnh); chân còn lại viết: “Thánh Đường diệt Hồ minh niên chúc” [27] (đúc vào sau năm nhà Đường diệt rợ Hồ). Giữa ba chân có đặt ba cửa, cửa phía dưới là chỗ để thông gió, thả tro vậy. Trên ba cửa viết sáu chữ cổ. Một cửa viết hai chữ “Y công”, một cửa viết hai chữ “canh Lục”, một cửa lại viết hai chữ “thị trà”. Tức “Y công canh, Lục thị trà” (Món canh của ông Y Doãn [28], trà khí của ta Lục Vũ [29]) vậy. Lại nữa, trên lư có đặt ba kiềng : kiềng thứ nhất có đúc “địch”, là giống hỏa điểu (chim lửa), vậy ... Xem toàn văn

Các tên gọi khác của trà và truyền thuyết

Các tên gọi khác của trà và truyền thuyết

Suyễn 荈 là loại trà hái muộn, theo Ngọc Thiên, nhưng Nhĩ Nhã lại ghi nghĩa hơi khác hơn (hái sớm là đồ, trễ là mính – nhưng đều gọi là suyễn). Theo Đường Tân Thư Bản Thảo, gọi tắt là Bản Thảo soạn vào đầu thời Đường, có ghi nhận tuyển (選 xuăn BK) là một tên gọi của đồ – đây có thể là một dạng của suyễn (biến âm s-t). Tương tự như vậy, một số tài liệu như Phương Ngôn, Quốc San Thuấn Trà 国山蕣茶 (một truyện cổ Giang Nam nổi tiếng), cũng ghi một tên gọi trà là thuấn (shùn BK, Unicode 8563) cũng có một thành phần hài thanh là suyễn 舛

《玉篇》 槚,苦荼 – 《爾雅》。晉·郭璞:“早采者爲荼,晚取者爲茗,一名荈蜀人名 之苦茶”

“Ngọc Thiên” mính, khổ đồ . “Nhĩ Nhã” . Tấn – Quách Phác : “tảo thải giả vi đồ, vãn thủ giả vi mính, nhất danh suyễn. Thục nhân danh chi khổ trà” . Quách Phác (276-324) là học giả và sử gia nổi tiếng đời Tấn; Để ý câu cuối của ông ghi chú ‘ … Người Thục gọi là khổ trà …’.

Một nhận xét thêm về thuấn : thường chỉ chi dâm (râm) ... Xem toàn văn

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Trà là âm Hán Việt (HV) viết bằng bộ thảo hợp với chữ xà 茶 : theo các tài liệu Trung Quốc (TQ) thường giải thích là loại chữ hội ý 会意 kết hợp các chữ nhân 人 (người) gặt hái các lá cây (thảo) 艹 từ trên cây (mộc) 木 (bây giờ viết là 朩). Chữ trà này không thấy trong triện văn, kim văn hay giáp (cốt) văn : điều này chứng tỏ sự ra đời muộn màng của chữ này – có tác giả cho rằng chữ trà xuất hiện từ thời Đường [3] (“Ngữ Lâm Thú Thoại” trang 571) – có tác giả còn cho năm sinh của chữ trà là 725 SCN (xem thêm chi tiết). Một số học giả khác như L. Wieger cho rằng chữ trà gồm bộ thảo và chữ dư (ta) 余 hài thanh (bỏ một nét ngang)(xem thêm chi tiết). Thuyết Văn Giải Tự cũng không ghi dạng trà này. Quả đúng như thế, theo Vận Hội (Khang Hy trích ra) thì trà là

【韻會】茗也。本作荼,或作,今作茶。

[ Vận Hội ] mính dã . Bổn tác đồ , hoặc tác trà , kim tác trà

Hay đồ chính là âm ... Xem toàn văn

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

Trà là đồ uống rất phổ thông ở Việt Nam, còn gọi là (nước) chè. Phần này ghi nhận một cách tổng quát các cách gọi trà khác nhau như mính, dành dành, giả, thiết, suyễn, tuyển, thuấn, sá … và âm cổ hơn của trà là đồ; Sau đó là các dạng từ song tiết như qua lô, cao lô, quá (qua) la, cao hộ .. cho đến rất nhiều dạng từ ghép như du đông, khổ đồ, khổ trà, suyễn trà, trà suyễn, trà mính … Đây là không kể các từ ghép tự nhiên và dễ hiểu hơn như Mạt Lị Hoa trà (Jasmine tea), Hồng trà, Bạch trà, Hoàng trà … Người viết sẽ cố gắng ghi lại các chữ Hán (sau âm Hán Việt) để tiện việc tra cứu về sau, nhất là các bạn đọc muốn tra cứu sâu xa hơn nữa. Tìm hiểu về trà trở nên lý thú không những vì lá trà có hơn 700 chất hoá học, mà còn các cách gọi và dùng trà ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Vấn đề trở nên đặc biệt hơn khi các từ đồ-trà/chà-chè lại có thể liên quan đến ... Xem toàn văn

Câu chuyện về cái ấm trà

Câu chuyện về cái ấm trà

Trước đây, tôi ko phải là ấm trà đâu, tôi là đất sét đỏ cơ. Rồi có một người đem tôi cuộn lại, đập dẹt ra, rồi nhào, rồi lại đập dẹt. Cứ như thế và tôi đã hét lên: “Buông tôi ra”, nhưng ông ấy chỉ cười: “chưa được đâu!”. Rồi ông ta lại đặt tôi lên 1 cái bàn xoay liên tục đến mức tôi lại phải kêu oai óai: “dừng lại đi, tôi chóng mặt lắm”. Thế nhưng ông ta chỉ gật gù: “Chưa đâu”!. Rồi ông ấy lại đặt tôi vào lò, nóng khủng khiếp. Tôi ko hiểu tại sao ông ta lại muốn hành hạ tôi, đốt tôi. Tôi đập vào thành lò bôm bốp, nhưng rất lâu sau ông ta mới chịu mở ra: “Chưa đâu, chưa được đâu!” 

Một lúc sau, tôi được ông ta lôi ra & đặt ngồi lên kệ và tôi nguội dần. “Dễ chịu quá”. Nhưng chẳng được bao lâu, con người khó tính kia lại lôi tôi ra & lấy sơn vẽ lên khắp người tôi. Tôi ko chịu được cái mùi ấy. Tôi gào lên: “Dừng lại đi mà” nhưng ông ta vẫn chỉ gật gù: “Chưa ... Xem toàn văn

Trà tạo (Trà Kinh – P4)

Trà tạo (Trà Kinh – P4)

Phàm hái trà thảy vào giữa tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư.

Măng trà nảy trên đất màu lạn thạch, dài bốn năm tấc, như vi, quyết đơm chồi, nhân lúc hơi sương chưa tỏa mà hái lấy. Chồi trà mọc trong lùm cây áng cỏ, thời cây có ba, bốn, năm cành, nên chọn cành vươn trội ra mà hái.

Vào ngày có mưa không hái, trời quang nhiều mây cũng không hái. Trời tạnh ráo thì hái, sau ấy chưng chín, giã nát, đập thành hình, sấy khô, xiên thành xâu, đóng gói. Trà khô thảy cậy mấy công đoạn ấy cả.

Trà có muôn hình vạn trạng. Sơ lược mà nói, có loại dúm dó như ủng của người Hồ (Nguyên chú: tựa vằn vệt do dùi mà ra vậy), có loại gấp nếp như thịt ức trâu núi, có loại lại ngoằn ngoèo như mây nổi đầu non, có loại lại gờn gợn như gió vờn bến nước, có loại như kẻ làm gốm lấy nước mà lắng đất bùn, trơn tru nhẵn bóng (Nguyên chú: Lắng, tức là lấy nước gột bùn cho sạch vậy), cũng lại có loại như dải đất vỡ hoang, gặp ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề