Trang chủ

Trà tạo (Trà Kinh – P4)

Trà tạo (Trà Kinh – P4)

Phàm hái trà thảy vào giữa tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư.

Măng trà nảy trên đất màu lạn thạch, dài bốn năm tấc, như vi, quyết đơm chồi, nhân lúc hơi sương chưa tỏa mà hái lấy. Chồi trà mọc trong lùm cây áng cỏ, thời cây có ba, bốn, năm cành, nên chọn cành vươn trội ra mà hái.

Vào ngày có mưa không hái, trời quang nhiều mây cũng không hái. Trời tạnh ráo thì hái, sau ấy chưng chín, giã nát, đập thành hình, sấy khô, xiên thành xâu, đóng gói. Trà khô thảy cậy mấy công đoạn ấy cả.

Trà có muôn hình vạn trạng. Sơ lược mà nói, có loại dúm dó như ủng của người Hồ (Nguyên chú: tựa vằn vệt do dùi mà ra vậy), có loại gấp nếp như thịt ức trâu núi, có loại lại ngoằn ngoèo như mây nổi đầu non, có loại lại gờn gợn như gió vờn bến nước, có loại như kẻ làm gốm lấy nước mà lắng đất bùn, trơn tru nhẵn bóng (Nguyên chú: Lắng, tức là lấy nước gột bùn cho sạch vậy), cũng lại có loại như dải đất vỡ hoang, gặp ... Xem toàn văn

Thưởng trà ngắm hoa – Ngày tết ở Huế

Thưởng trà ngắm hoa – Ngày tết ở Huế

Tết là ngày hội đầu Xuân, người người hân hoan vui mừng chào đón bao điều tốt đẹp của năm mới sẽ đến, là dịp để gia đình quây quần sum họp mừng thọ ông bà, cha mẹ; anh em, con cái làm ăn phương xa trở về đoàn tụ trong mái ấm thương yêu, là cơ hội tuyệt vời cho bạn bè thân ái gặp mặt tâm tình, chúc nhau vạn sự như ý … Trong không khí thiêng liêng của đất trời …, sự ấm cúng của mọi nhà … không thể nào thiếu mùi trầm hương thơm ngát, sự tươi thắm sắc màu của hoa xuân và hương vị tao nhã của tách trà nghi ngút …

Ngày tết ở Huế nhà nhà đều tràn ngập hoa tươi rực rỡ, người Huế dâng hoa với ý nguyện cầu mong an bình hạnh phúc cho con cháu trong năm mới. Trên bàn thờ, hoa huệ trắng tinh khiết ngát hương, cắm một nhành hoàng mai vào chiếc lọ gốm để ở gian giữa nhà, với người Huế, như thế là mùa Xuân ấm áp đã đến! và niềm vui càng được nhân lên khi trong cành mai vàng ... Xem toàn văn

Nguồn gốc và Chủng loại

Nguồn gốc và Chủng loại

1. Nguồn gốc

Nhiều công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm. Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè để làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống. Cũng theo các nguồn tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta nằm trong vùng nguyên sản của giống chè tự nhiên trên thế giới.

Năm 1823 R.Bruce phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải là ở Trung Quốc. Trong tất cả các tài liệu gần đây hầu như không thấy có sự nhất quán nêu lên về nơi xuất xứ của cây chè. Chúng ta biết rằng muốn xác định vùng nguyên sản của một cây trồng cần căn cứ vào những điều kiện tổng hợp, trong đó cây dã sinh chỉ là một điều kiện mà chủ yếu là cần ... Xem toàn văn

Long Tỉnh

Long Tỉnh

Trà Long Tỉnh (tiếng Hán giản thể: 龙井茶; phồn thể: 龍井茶, bính âm: lóngjǐngchá) là một loại trà xanh nổi tiếng của Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Hầu như được chế biến bằng tay theo phương thức truyền thống và nổi tiếng vì có chất lượng rất cao. Trà Long Tỉnh được chia thành 7 hạng khác nhau : loại cao cấp, loại đặc biệt, và các loại từ một đến năm.

Giống như hầu hết các loại trà xanh khác, lá trà Long Tỉnh được sao khô để tránh quá trình lên men. “Quá trình lên men” ở đây được hiểu là quá trình những lá trà tươi sau khi hái dần mất đi mùi vị trà, kết quả của quá trình oxy hóa do các enzim. Sự oxy hóa này bị ngăn chặn bằng việc sấy và làm bay hơi nước trong lá trà trước khi nó hoàn toàn bị héo. Khi được ngâm vào nước, lá trà Long Tỉnh sinh ra màu vàng xanh lá cây, mùi thơm dịu, vị đậm, có chứa Vitamin C và Axít amin.

Lịch sử

Trà Long Tỉnh được chế biến tại Hàng Châu. Nơi đây thiên nhiên rất đặc ... Xem toàn văn

Trà cụ (Trà Kinh – P3)

Trà cụ (Trà Kinh – P3)

Doanh (giành) : còn gọi là “lam” (làn), là “lung” (lồng), là “cử” (sọt), là thứ đồ đan bằng tre, đựng được năm thăng, hoặc có cái đựng một đấu, hai đấu, ba đấu. Trà nhân địu nó để hái trà vậy. (Nguyên chú: “Hán thư” có câu “Hoàng kim mãn doanh, bất như nhất kinh” tức “Dẫu có bạc vàng đầy cả sọt, chẳng bằng kinh sử một vài pho”. Nhan Sư Cổ chú: “Doanh, là đồ tre nứa, có thể đựng được bốn thăng.”)

Táo : thứ bếp không nóc (không ống khói).

Phủ (nồi) : dùng loại miệng bằng.

Tăng (chõ) : hoặc bằng gỗ, hoặc bằng đất, bên eo phết bùn. Lấy lam làm vỉ, dùng lạt buộc chặt. Thoạt mới đem chưng, bỏ trà vào vỉ, khi đã chín thời bỏ ra. Phủráo, thì đổ vào tăng. (Nguyên chú: Tăng không thắt lưng mà phết bùn.) Lại dùng cành cây hình ba chạc khuấy cho đều, phân tán măng và chồi trà đang đun, cho trà khỏi mất chất.

Chử cữu (chày cối) : còn gọi “xác”, thứ dùng thường xuyên là tốt nhất.

Quy (khuôn) : còn gọi là “mô”, là “quyền”, làm bằng sắt, hoặc ... Xem toàn văn

Trà Nguyên (Trà Kinh – P2)

Trà Nguyên (Trà Kinh – P2)

Trà, giống cây quý ở phương Nam vậy. Thân cao một thước, hai thước cho tới vài chục thước. Ở vùng Ba Sơn, Hiệp Xuyên có giống cây hai người ôm mới đặng, đốn xuống mới ngắt được lá. Cây này tựa cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành), hoa như hoa tường vi trắng, quả như quả binh lư (quả cọ), nhị như nhị đinh hương, rễ như rễ hồ đào. (Nguyên chú: Qua lô sinh trưởng ở vùng Quảng Châu, tựa trà ở vị đắng chát. Binh lư thuộc họ bồ quỳ, giống nó cũng như trà vậy. Hồ đào và trà, rễ thảy mọc ngầm, xuyên lớp đá vụn, mầm trổ bên trên.)

Chữ “trà” hoặc thuộc bộ thảo, hoặc thuộc bộ mộc, hoặc thuộc cả thảo lẫn mộc. (Nguyên chú: Thuộc bộ thảo thì viết, chữ này thấy trong sách “Khai Nguyên văn tự âm nghĩa”; thuộc bộ mộc thì viết, thấy trong sách “Bản thảo”; còn thuộc cả bộ thảo và mộc thì viết thành “đồ”, chép trong sách “Nhĩ nhã”.) Tên cây ấy, một gọi là “Trà” , hai gọi là “Giả” , ba gọi là “Thiết” , bốn gọi là ... Xem toàn văn

Về tác giả Lục Vũ (Trà Kinh – P1)

Về tác giả Lục Vũ (Trà Kinh – P1)

Quẻ Tiệm, quẻ thứ năm mươi ba trong Kinh Dịch, có câu “Hồng tiệm vu lục, kỳ vũ khả vi nghi, cát” (Chim hồng dần bay lên non, lông vũ có thể làm nghi sức, tốt lành). Lời của quẻ ấy suy ra có nghĩa rằng: bậc hiền nhân đặt mình nơi cao viễn, thoát vòng tiến thoái, ngoài cuộc no say; một sợi hồng mao tuy chẳng có cái tài lương đống, nhưng cũng có cái dụng lâu dài. Xem như chữ “nghi” trên kia chẳng phải là “nghi biểu”, là “mô phạm” cho muôn đời đó ư! Lục Vũ tự gieo quẻ mà đặt lấy tên họ cho mình như vậy.

Lục Vũ (733-804), một tên là Tật, tự Hồng Tiệm, lại tự Quý Tỳ, hiệu Đông Cương tử, người Cảnh Lăng (nay Thiên Môn, Hồ Bắc) Phục Châu thời Đường. Thuở nhỏ bị bỏ rơi, tăng Trí Tích chùa Long Cái qua cầu Cổ Nhạn, nghe tiếng hài nhi gào khóc trong bụi sậy bèn đem về nuôi trong chùa. Ông từ nhỏ hiếu học, tính tình điềm đạm, sớm hun đúc trong tư tưởng Phật Nho, coi khinh quyền quý, yêu chuộng thiên nhiên, chẳng muốn ... Xem toàn văn

Thưởng trà Sen sớm

Thưởng trà Sen sớm

Từ xa xưa, thưởng thức trà sen là thú vui tao nhã chỉ dành riêng cho những vương tôn công tử và những gia đình quyền quý. Uống trà sen đúng cách là ngồi trên sập gỗ, dưới mái hiên, giữa đầm sen bát ngát. Nhưng ngày nay, người dân Hà thành vẫn tìm được chốn thanh bình đó, thưởng trà, ngắm hoa, tìm về với văn hóa nguồn cội của dân tộc. Đặc biệt gần đây, khi mùa sen nở, nhiều bạn trẻ Hà thành lại mê uống trà sen sáng sớm bên hồ Tây

Thưởng trà Sen sớm

Sớm mai lấp ló vài giọt nắng. Giữa khoảng không gian mênh mông, làn sương mỏng manh đang tan đi trong mùi sen thơm nức… 5h sáng, mấy chiếc ghe bắt đầu vào việc. Đôi mắt tinh nhanh của người hái sen tìm kiếm những búp sen “hé miệng sáo” đang lấp ló giấu mình sau những tấm lá. Và rồi chính họ cũng thoắt ẩn thoắt hiện trong đầm sen mênh mông. Chỉ biết là trước khi nắng lên thì ghe đã cập bờ đầy ắp búp sen hồng.

Sen hồ Tây xưa nay vẫn nổi tiếng dùng để ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề