Trang chủ

Trà khí Nhật Bản

Trà khí Nhật Bản

Maccha (まっちゃ): Người ta hái những lá trà non đem đi rửa sạch, phơi ráo nước và xay nhuyễn thành bột. Vì thế trà có màu xanh tươi và độ ẩm nhất định chứ không khô như các loại trà lá. Khi uống, bột trà được đánh tan với nưới sôi.

Diệp trà: trà nguyên lá, pha trong ấm, lấy tinh chất, bỏ xác. Thường sử dụng loại trà cho nước màu vàng tươi hay màu xanh nhẹ.

Phụ liệu: ngoài nguyên liệu chính là trà bột hay trà lá, người pha chế còn cho thêm một số thảo dược, các loại củ quả phơi khô, đậu để làm tăng thêm hương vị cho chén trà, hay quan trọng hơn là mang tính trị liệu, rất có lợi cho sức khỏe, giúp người bệnh mau hồi phục thể chất lẫn tinh thần.

Nước pha trà: thường là nước suối, nước giếng, nước mưa, hay nước đã qua khâu tinh lọc.

Siêu và Lò đun nước (お釜 & 焜炉): Siêu dùng đun nước sôi để pha trà, thường được làm bằng gang hoặc đồng. Lò thường chế tác bằng Gang, Đồng hoặc đất nung, dùng than để nấu. Ngày nay ... Xem toàn văn

Trà Sen – Pháp tu khổ hạnh

Trà Sen – Pháp tu khổ hạnh

Tôi ví việc làm Trà Sen phải như con đường của những bậc chân tu, phải có giáo lý cao minh, tinh khiết như đức Phật đã để lại chốn nhân gian, lại thêm những con người có cốt cách, có Phật duyên mới mong đạt được thành tựu.

Cái đức của trà vốn đã sáng rõ quá rồi, thiết nghĩ không cần bàn thêm nữa, như một người sinh ra đã có Phật duyên vậy. Sen sinh ra từ bùn đất mà không mất đi sự thanh cao, tinh khiết, sắc Hồng thấm đẫm cõi nhân gian, hương thơm thấu suốt tam giới. Phật pháp dung được mọi thứ trên cõi nhân gian này nhưng để chứng ngộ được thì cần lắm một cao nhân. Thế nên để Trà và Sen quện được vào nhau thì Trà phải đủ duyên, và Sen phải đủ đức. Nói như vậy nghĩa là với tôi việc lựa chọn Trà và Sen không thể qua loa được, nghĩa là không phải cứ có Trà cứ có Sen, đem góp vào với nhau thì ra được Trà Sen vậy.

Các bậc tiền nhân cao khiết đã để lại cho chúng ta một thứ trà ... Xem toàn văn

Lược ý “Trà và Thiền” trong tinh thần Đại thừa Thiền Phật Giáo bắc truyền

Lược ý “Trà và Thiền” trong tinh thần Đại thừa Thiền Phật Giáo bắc truyền

Không biết tự bao giờ, Trà trở thành thân quen trong nếp sống Thiền gia Phật Giáo Bắc Truyền, rồi trà thành một phần văn hóa của Phật Giáo, pháp tu của Đạo Thiền, một phương pháp thưởng thức, yêu mến thiên nhiên, chỉ có bạn trà trong Thiền lâm mới có thể liễu được, một nét văn hóa ẩm thực, thể hiện sự thanh cao, hòa nhã, thanh tịnh đủ tính nết thiền, của những con người “Thế ngoại đào viên”.

Nói đến Trà là nói đến Đông Độ, bàn về Đạo của Trà hay cách thức thưởng thức Trà thì phải nói đến Phật Gia, người Đông độ biết đến Trà rất sớm, trong sách của Tư Mã Tương Như đời Tây Hán (năm 200 trước công nguyên) thiên Phàm Tương đã có đến trà và gọi trà là: “Suyễn sá”, trong sách Thần Nông Bổn Thảo Kinh gọi Trà là: “Trà thảo”, trong sách Quảng Châu Ký của Bùi Uyên thời Đông Tấn thì gọi trà là: “Hạo lư”, trong sách Trà Kinh của Lục Vũ đời Nhà Đường chép về trà như: “Tên của trà có rất nhiều cách gọi, thứ nhất gọi là Trà, thứ ... Xem toàn văn

QPVN / Mắc nợ trà

Cái ấm đất và bộ chén trà Nguyễn Tuân tặng Thạch Lam

Cái ấm đất và bộ chén trà Nguyễn Tuân tặng Thạch Lam

Trời mới vừa hửng sáng, đám sương mù dầy đặc từ đêm hôm trước như có linh hồn của một người yêu công việc thấy được ánh sáng đầu ngày đã vội vàng tản mát trên mặt nước Hồ Tây, như những người thợ cần mẫn vội vã đến nơi làm việc. Phía trong làng hoa Yên Phụ, những người trồng hoa đã bắt đầu gánh sản phẩm của những ngày lao động vội vã đi về phía đê Yên Phụ rồi tản mát đến các khu họp chợ để phân phát hương thơm và mầu sắc cho những thiếu nữ mộng mơ. Trên đê Yên Phụ lúc đó, người phu xe cũng vừa ngừng chạy, đặt hai cái càng xe xuống mặt đường. Một người đàn ông tầm thước mặc đồ âu tây trắng, đội mũ phớt trắng chậm rãi bước khỏi xe. Ông cẩn thận ôm trên tay một cái bọc vải mầu nâu gụ, dặn dò thời gian người phu xe trở lại đón rồi thong thả đi xuống đê, rẽ vào con đường làng nhỏ ngược chiều với những gánh hoa đủ mầu sắc. Qua cái đình có vẽ hình một con hổ vàng vằn đen, ... Xem toàn văn

Truyền thuyết trà Đại Hồng Bào

Truyền thuyết trà Đại Hồng Bào

Đại Hồng Bào là trà trên mỏm núi đá Vũ Di tỉnh Phúc Kiến. Truyền thuyết về sự ra đời của nó vô cùng phong phú. Thời cổ đại kể lại rằng, có một tú tài nghèo lên kinh thành dự thi, khi đi qua núi Vũ Di đã ngã bệnh, may mắn có một  phương trượng  già tốt bụng thấy vậy bèn pha một bát trà cho chàng ta uống. Quả nhiên, bệnh khỏi. Sau này, chàng tú tài ghi danh Bảng Vàng, đỗ Trạng Nguyên, còn được  đông sàng phò mã.

Một ngày mùa xuân, trạng nguyên về núi Vũ Di tạ ơn, đi tham thú cùng với phương trượng đó, tiền hô hậu ủng, tới Cửu Long Khoa  nhưng nhìn thấy vách núi dựng đứng có 3 cây trà cao lớn, cành lá sum xuê, tỏa ra những búp trà xanh non mơn mởn. Dưới ánh nắng mặt trời ánh lên màu hồng tím, vô cùng ý nhị. Lão phương trượng nói: “Năm ngoái, khi phò mã mắc bệnh chính là dùng loại lá trà này pha uống mà khỏi đó ạ!”.

Từ rất xa xưa, mỗi dịp xuân về, khi cây trà phát lộc,  tiếng chim ... Xem toàn văn

Các giống trà lai

Các giống trà lai

1. Giống trà Hùng Đỉnh Bạch

a. Nguồn gốc: Giống Trung Quốc nhập nội năm 2000 – Hệ vô tính.

b. Đặc điểm:

– Hình thái: Cây có tán trung bình, phân cành cao, mật độ cành trung bình, lá ngang. Dài lá  10,6- 13,4 cm, rộng lá 5,6- 5,9 cm, lá hình bầu dục, chóp lá hơi tù, lá dày, màu lá xanh, răng cưa rõ. Búp có màu xanh vàng, non lâu, nhiều tuyết. Trọng lượng búp (1 tôm + 2lá) 0,54 g.

– Sinh trưởng: Cây sinh trưởng khoẻ, mật độ búp khá, trồng ra nương cây có tỷ lệ sống cao. Cây một tuổi có đường kính thân trung bình 0,81cm. Nhân giống vô tính bằng giâm hom có tỷ lệ sống trên 80%, trà 20 tháng tuổi đạt 202,5 kg/ha.

– Hàm lượng nội chất (vụ Hè): Hợp chất thơm (mg/ 100g) 41,52; Tanin 31,44%; Chất hoà tan 41,52%; A. amin (mg/ 100g) 43,09.

c. Mức phổ biến: Giống Hùng đỉnh Bạch được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định công nhận giống tạm thời và trồng khảo nghiệm trên diện rộng theo vùng sinh thái tại các tỉnh Trung ... Xem toàn văn

Trà Bát Tiên trăm tuổi

Trà Bát Tiên trăm tuổi

Lão nông quyết tìm trà cổ

Câu chuyện “săn” trà cổ thụ bắt nguồn từ một lão nông tên là Nguyễn Văn Tuân ở xã Minh Tiến, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Từ nhỏ ông Tuân đã nghe các cụ cao niên kể về rừng trà Bát Tiên cổ thụ trên núi cao gần 1000m, thuộc địa phận thôn Lưu Quang.

Lời kể rằng đó là rừng trà của các tiên ông ngự trị. Nơi đó âm u, sương khói bao phủ suốt ngày đêm, lại có dãy núi Hồng cao chót vót làm bức tường thành bảo vệ rừng trà trước bất kỳ kẻ nào có ý đồ xâm phạm. Đây cũng là khu vực rừng rậm, nhiều thú dữ như hổ báo và các loại trăn, rắn lớn nên hầu như không ai đủ gan lên đó. Cụ Thảo, 92 tuổi móm mém kể rằng, hồi còn nhỏ cụ hay chăn trâu ở khu vực chân núi. Thỉnh thoảng cụ lại nghe thấy những tiếng hát từ trên núi vọng lại và mùi trà thơm thoang thoảng bay qua. Có một điều lạ là đàn trâu không bao giờ dám lên trên sườn núi ăn cỏ. Sau ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề