Trang chủ

Từ khóa: tản mạn về trà

Trà hương trên đất B’lao

Trà hương trên đất B’lao

Khởi đầu ngày mới với một tách trà hương là thói quen của không ít khách thưởng trà. Sáng tinh mơ, khi sương núi còn la đà trên nhánh cây trước ngõ, pha một ấm trà, hương thơm nhè nhẹ lan tỏa cõi lòng, làm ta thấy nhẹ nhàng, thanh thoát.

Trà B’Lao chế biến theo cách làm trà xanh, phù hợp với thị hiếu uống trà của người Á Đông. Đọt trà tươi hái về, được đem vào lò xào, vò, sấy khô để thành trà mộc. Trà mộc sơ chế này có thể pha nước uống. Nhưng có lẽ, cây trà B’Lao sinh trưởng trong một vùng mưa nhiều, nên hương trà không đượm. Người “đàng trong” lại chuộng trà đượm hương, nên phần lớn trà B’Lao là trà có ướp hương các loài hoa, mà người Việt ưa chuộng như hoa sen, hoa sói, hoa lài. Thỉnh thoảng cũng có người ướp trà hương hoa ngọc lan hay hương hoa mộc, nhưng không mấy phổ biến, chỉ để dùng trong gia đình.

Trà bạch mao hảo hạng ướp hương sen được giới thưởng trà cho là “đệ nhất trà hương”. Có điều, trà hương sen không chế ... Xem toàn văn

Chế biến trà mộc ở B’Lao xưa

Chế biến trà mộc ở B’Lao xưa

Cây trà được người Pháp trồng tại B’Lao từ thập niên 30 của thế kỷ trước. Họ chế biến trà đen để tiêu thụ tại thị trường châu Âu. Đầu những năm 50, tại B’Lao mới có thêm vài người Hoa, người Việt lập đồn điền trồng trà, với qui mô nhỏ. Trà khô được bán thẳng cho thương lái ở Chợ Lớn. Đến khoảng năm 1955 – 1956, nông dân trong các trại định cư bắt đầu trồng trà. Từ đó, trà sơ chế của người dân trong vùng mới bắt đầu xuất hiện tại chợ B’Lao.

Cách chế biến từ trà tươi ra trà khô, gọi là trà sơ chế hay trà mộc, theo kiểu làm trà xanh, xuất phát từ đồn điền Bảo Đại và đồn điền Lê Minh Sanh. Các đồn điền này chế biến trà bằng máy móc bán công nghiệp, có lò xào trà, có máy vò, máy sấy nhập cảng từ Ấn Độ, Tích Lan. Người dân địa phương, vì không có máy móc, họ chế biến trà theo cách của họ. Có lẽ những người chế biến trà tươi thành trà mộc theo phương thức thủ công đầu tiên là người dân ... Xem toàn văn

Ly và Trà

Ly và Trà

Ngồi trong phòng khách, thấy Trà không chịu hòa vào ấm nước đang nóng để tỏa ra những hương thơm ngát, hòa quyện vào lòng Ly như mọi ngày, Ly liền hỏi: có chuyện gì đang xảy ra với Trà thế? Nhìn mặt cậu hôm nay không được tốt cho lắm?

Đúng đấy Ly à, thật sự tớ đang rất buồn, buồn vì cảm nhận của… con người chưa đúng về tớ. Hàng ngày khi con người muốn dùng đến tớ, họ thường cho tớ vào ấm nước thật nóng để tớ tỏa ra những hương thơm, những vị chát hòa quyện vào trong nước để rồi họ đưa vào trong cơ thể của họ với nhiều mục đích khác nhau, có người dùng tớ như một phương tiện giải nhiệt, có người dùng tớ để tạo ra cảm hứng làm thơ, có người thì coi tớ như một người bạn cùng ngắm trăng và cũng có người dùng tớ chỉ đơn thuần để mà uống,…, nhưng có mấy ai biết được, cảm nhận được mong muốn của tớ.

Có người cho rằng tớ xuất thân từ sự tinh khiết và cao quý nên chỉ có những bậc thánh hiền, ... Xem toàn văn

Tản mạn chè chén vỉa hè

Tản mạn chè chén vỉa hè

Chè chén là thức uống bình dân và phổ biến ở Hà Nội. Nhiều người bảo khách phương xa về thăm Thủ đô mà chưa ngồi vỉa hè uống chén nước chè thì coi như… chưa đến Hà Thành. Bởi chè chén ở đây có cái gì đó vừa gần gũi, thân quen, vừa mang nét riêng đặc trưng của đất Tràng An.

Chè chén vỉa hè có xuất xứ từ quán nước gốc đa ở ven những tỉnh lộ thời xưa, thường bán nước chè tươi và nước vối nóng. Theo thời gian cũng có chút thay đổi. Gọi là quán nhưng chỉ có cái bàn con con tự chế bằng gỗ, vài chiếc ghế nhựa, dăm, bảy cái chén, một ấm tích pha chè, hộp kẹo, phích nước sôi… cùng chiếc điếu cày làm bằng tre lên nước bóng lộn. Những quán như thế dần dần xuất hiện khắp các hè phố Hà Nội, ở bến tàu, bến xe, gần các xí nghiệp, trường học, bệnh viện, chung quanh những khu phố chợ và trở thành loại ‘quán giải khát’ của mọi người. Ở đây, ranh giới về tuổi tác, sự khác biệt về nghề nghiệp, vị trí ... Xem toàn văn

Nâng chén trà, nhớ Hà thành xưa …

Nâng chén trà, nhớ Hà thành xưa …

Hà Nội sáng. Dòng người cuồn cuộn lao đi trên đường. Trà đá đã tấp nập. Hà Nội trưa. Rồi Hà Nội tối. Trà đá lúc nào cũng tíu tít. Có thách vàng, người ta cũng không tìm được vài trăm mét phố nào ở đất này thiếu trà đá.

Người Việt có tục uống trà từ lâu đời. Người Hà Nội nâng nó lên thành nghệ thuật. Đọc lại “Vũ trung tùy bút” của cụ Phạm Đình Hổ, ta cũng biết rằng, quãng hai trăm năm về trước, cách thưởng trà của người Việt đã cầu kỳ lắm. Riêng về trà cụ (dụng cụ pha trà), có gia đình sẵn sàng bỏ cả mấy chục lạng bạc mua cho được những bộ ấm quý. Nhà văn Nguyễn Tuân, trong một tác phẩm trước những năm 1945 lại kể rằng: Có kẻ ăn mày ghé vào một gia đình giàu có, nhưng hắn không xin cơm, mà xin một ấm trà. Khi uống xong, kẻ hạ tiện kia cả gan chê trà của nhà quyền quý không ngon. Gia đình quyền quý vốn tự hào về sành trà cả giận, nhưng rồi đã giật nảy mình về khả năng thưởng trà ... Xem toàn văn

Trà đào

Trà đào

Tôi trở lại Lộc Hà tìm gặp Nương và tìm lời giải đáp đâu là sự thật ẩn giấu đằng sau con người lạ lùng ấy. Nương có phải là “yêu nữ” như cách gọi của ông chủ trà thất Kissa, hay là “Trà Đào” như cách tôi vẫn hằng gọi?

Lúc đến trà thất Kissa, chủ nhân đã đi đâu đó. Tôi đẩy cánh cổng bước vào bên trong vì biết rằng nó luôn để ngỏ. Trà thất có hai gian chính, một nằm ở trên cao làm toàn gỗ gọi là gian mộc và gian kia thấp hơn xây bằng gạch gọi là gian thổ. Hai gian cách nhau qua một hồ nước nhân tạo trồng nhiều hoa. Trong nhiều loài hoa có hoa bèo.

Tôi nằm dài trên chiếc chiếu trong gian thổ, đầu gối lên chính chiếc tọa cụ mình vẫn thường ngồi uống trà, và nghĩ về Trà Đào. Một người đi từ trên dốc xuống, còn người kia thì ngược từ dưới lên; thoáng nhìn nhau; chợt nhận ra một điều gì đó, lại nhìn nhau; rồi bước qua nhau. Đến khi thấy tiếc nhớ cái gì mơ hồ vừa thoáng qua, quay lại ... Xem toàn văn

Câu chuyện về cái ấm trà

Câu chuyện về cái ấm trà

Trước đây, tôi ko phải là ấm trà đâu, tôi là đất sét đỏ cơ. Rồi có một người đem tôi cuộn lại, đập dẹt ra, rồi nhào, rồi lại đập dẹt. Cứ như thế và tôi đã hét lên: “Buông tôi ra”, nhưng ông ấy chỉ cười: “chưa được đâu!”. Rồi ông ta lại đặt tôi lên 1 cái bàn xoay liên tục đến mức tôi lại phải kêu oai óai: “dừng lại đi, tôi chóng mặt lắm”. Thế nhưng ông ta chỉ gật gù: “Chưa đâu”!. Rồi ông ấy lại đặt tôi vào lò, nóng khủng khiếp. Tôi ko hiểu tại sao ông ta lại muốn hành hạ tôi, đốt tôi. Tôi đập vào thành lò bôm bốp, nhưng rất lâu sau ông ta mới chịu mở ra: “Chưa đâu, chưa được đâu!” 

Một lúc sau, tôi được ông ta lôi ra & đặt ngồi lên kệ và tôi nguội dần. “Dễ chịu quá”. Nhưng chẳng được bao lâu, con người khó tính kia lại lôi tôi ra & lấy sơn vẽ lên khắp người tôi. Tôi ko chịu được cái mùi ấy. Tôi gào lên: “Dừng lại đi mà” nhưng ông ta vẫn chỉ gật gù: “Chưa ... Xem toàn văn

Chén trà trong sương sớm

Chén trà trong sương sớm

Trời rét như cắt. Không kể tiểu hàn, không kể cả đến đại hàn, buổi sớm mùa đông nào, cụ Ấm cũng dậy từ lúc còn tối đất. Từ trên bàn thờ đức Thánh Quan, cụ nhắc cây đèn để xuống. Ðược khêu hai tim bấc nữa, cây đèn dầu sở phô thêm màu xanh lá mạ phủ trên chất sứ Bát Tràng.

La liệt trên chiếu cói cạp điều đã sờn cạnh,cụ ấm đã bày lên đấy khay trà, ống nhổ, ấm đồng và hỏa lò đất. Cái điếu bát vẽ Mai Hạc kêu vang lên một hồi rất dòn, rất đều. Khói thuốc lào đặc sánh lại bao chùm lấy ánh sáng yếu ớt của một ngọn đèn dầu. Rồi làn khói loãng dần biến ra màu nhờ nhờ như làn hơi nước sủi. Sau màn khói, ẩn hiện một ông già chống nạnh bên gối xếp, cặp mắt lim dim như một nhà sư nhập định. Vẻ nghiêm trang lặng thinh của ông già muốn làm ngừng cả áng khói trắng hiếu động đang trôi trong không khí gian nhà gạch. Ba gian nhà, chỉ có một người thức.

Trong cảnh trời đất lờ mờ chưa đủ ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề