Trang chủ

Từ khóa: trà Việt

Trà Tà Xùa

Trà Tà Xùa

Trên vùng núi cao mây phủ-sương mờ, nơi phân chia trời-đất, có những cây trà chứng kiến bao kiếp người tộc Mông, nơi ấy có tên gọi Tà Xùa.

Không như những cây trà cổ thụ nơi khác, dường như đang trải qua cuộc sống “cơ hàn”, hằn lên thân cây già nua, nỗi cực nhọc đã tạo nên những “nếp nhăn”, những vết “chai sạn”, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, bò sát mặt đất mong kiếm chút hơi sương để quên đi cơn khát nơi gốc cây cằn cỗi. Tất cả nỗi khổ cực đó, cũng như con người qua năm tháng cơ hàn chỉ còn lại sự cay nghiệt, nhìn mọi sự với con mắt chua chát và muộn phiền. Cây trà trả lại cuộc đời sự đắng gắt, tất nhiên cái cốt cách của nó vẫn không thay đổi vẫn mang lại cho ta cái dư vị ngọt ngào,  như cuộc sống của chính nó, quả là “Khổ tận, cam lai”.

Những cây trà sống cùng người Mông ở độ cao chừng trên dưới 1.600m. Cả xã Tà Xùa có tám bản, nhưng chỉ năm bản có trà, trong năm bản đó ... Xem toàn văn

Trà Bát Tiên trăm tuổi

Trà Bát Tiên trăm tuổi

Lão nông quyết tìm trà cổ

Câu chuyện “săn” trà cổ thụ bắt nguồn từ một lão nông tên là Nguyễn Văn Tuân ở xã Minh Tiến, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Từ nhỏ ông Tuân đã nghe các cụ cao niên kể về rừng trà Bát Tiên cổ thụ trên núi cao gần 1000m, thuộc địa phận thôn Lưu Quang.

Lời kể rằng đó là rừng trà của các tiên ông ngự trị. Nơi đó âm u, sương khói bao phủ suốt ngày đêm, lại có dãy núi Hồng cao chót vót làm bức tường thành bảo vệ rừng trà trước bất kỳ kẻ nào có ý đồ xâm phạm. Đây cũng là khu vực rừng rậm, nhiều thú dữ như hổ báo và các loại trăn, rắn lớn nên hầu như không ai đủ gan lên đó. Cụ Thảo, 92 tuổi móm mém kể rằng, hồi còn nhỏ cụ hay chăn trâu ở khu vực chân núi. Thỉnh thoảng cụ lại nghe thấy những tiếng hát từ trên núi vọng lại và mùi trà thơm thoang thoảng bay qua. Có một điều lạ là đàn trâu không bao giờ dám lên trên sườn núi ăn cỏ. Sau ... Xem toàn văn

Tiền Phong / Hồi sinh TRÀ CỔ

Tiền Phong / Hồi sinh TRÀ CỔ

Những loại trà thuần Việt tưởng đã bị tuyệt diệt, đang trở lại trên nhiều bàn nước gia đình nhờ nỗ lực của một người trẻ tuổi mê trà cổ.

Bắc lấy thìa tre múc trà vào ấm, đun nước sôi bằng ấm Tetsubin (ấm gang của Nhật), rót nước vào ấm tử sa, rưới phủ toàn bộ bên ngoài ấm. Vài giây sau, rót nước ra tống thủy tinh, từ tống rót ra hai chén sứ Cảnh Đức màu trắng cho khách và cho mình. Trà này nước màu vàng nhạt, uống nhẹ bụng, nhưng vài chén lưỡi có cảm giác dày lên, dư vị chát. Chủ quán Thưởng Trà nói: “Hậu vị rất hay”.

Việt Bắc đã làm ra 4 thương hiệu trà thuần Việt: Bạch Hạc, Lạc Sơn, Âu Sơn, Hồng Hạc, được giới sành trà bọi là Ưu Việt Trà.

CÓ SẢN PHẨM MỚI THẤY MÌNH ĐANG SỐNG

Ông chủ trẻ của Thưởng Trà thích dùng ấm tử sa – làm từ loại đất cùng tên chỉ có ở vùng Nghi Hưng – Trung Quốc, màu vàng nâu sành hoặc hơi pha đỏ tiết gà. Ban đầu nghệ ... Xem toàn văn

Người Hà Nội xưa Thưởng trà

Người Hà Nội xưa Thưởng trà

Mỗi cân trà, nghệ nhân Hà thành ướp cùng 1.000 -1.200 bông sen là một trong những lý do khiến người nước ngoài đã không ít lần xuýt xoa trước nghệ thuật ướp trà cầu kỳ, tinh tế của người Hà Nội.

Trong nghệ thuật ướp trà này, trà mạn hảo được ưa chuộng hơn cả. Nguyên liệu là trà Shan Tuyết cổ thụ vùng mạn ngược Hà Giang, mọc tự nhiên trên những dãy núi cao 800 -1.300 m, quanh năm sương phủ. Các nghệ nhân trà Hà Nội trân trọng, nâng niu từng búp trà này như một báu vật. Họ chọn lựa những búp non, những lá trà bánh tẻ rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi phơi khô, họ cho trà vào chum (vại), trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ 3 – 4 năm cho trà phong hoá bớt chất chát, có độ xốp như giấy bản mà vẫn lưu giữ được hương vị đặc trưng.

Khi ướp, người ta rải một lớp trà rồi một lớp gạo sen mỏng, rồi lại một lớp trà, một lớp gạo sen. Cứ thế cho đến khi hết trà. Sau cùng, phủ một lớp giấy bản. ... Xem toàn văn

Mùa Xuân nói chuyện trà

Mùa Xuân nói chuyện trà

Theo truyền thuyết hơn 6000 năm, vua Shin Nung (Thần Nông) tình cờ khám phá trà thơm ngon, có thể chửa bệnh. Huyền thoại về trà Bodhidharma (Bồ đề đạt ma) người Ấn Ðộ lúc ngồi thiền hay buồn ngủ, ngài giận cắt mí mắt ném xuống đất và từ chổ đó mọc lên cây trà. Chuyện hoang đường này cho rằng trà giúp sự thức tỉnh một sức mạnh của tâm linh.

Theo tài liệu từ đời nhà Tần 221 (TCN) biết dùng trà như một dược liệu, chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian. Thời nhà Đường Tang Dynastie (618-907). Trà được uống trong các tu viện, lần đầu tiên ở tu viện Yang Ling trên núi Tai Shan, uống trà làm đầu óc tỉnh táo, dễ tập trung hơn, từ đó thuật uống trà phát triển trong giới Thiền tông khắp Trung Hoa. Tác phẩm đầu tiên viết về trà „Cha Ching/茶經/Trà Kinh“ của Lu Yu /陸羽(728-804) tên thật Tsing Ling Zhe sinh ở Hubei/ Hồ Bắc, Trung Hoa. Ông mồ côi từ thuở nhỏ được Thiền sư Zek Shin nuôi dạy, Lu Yu có dịp học nghệ thuật pha trà từ vị cha nuôi ngay ... Xem toàn văn

Tản mạn về trà và nghệ thuật Trà Hà Nội

Tản mạn về trà và nghệ thuật Trà Hà Nội

Thuở nhỏ, những dịp hầu trà các bậc thúc bá trong gia đình, tôi vẫn thường nghe các cụ bảo: “Trà là một nghệ thuật lớn”. Khởi từ đất trồng, địa hình, khí núi, nắng mưa, sương gió tưới tắm, ươm bật thành lộc non, lá nõn cho đến khi thu hái, sao chế, để có được một ấm trà ngon ngồi pha mà nhâm nhi thưởng thức, đó là cả một hành trình dằng dặc mà mỗi chặng, mỗi nhịp đều phải đạt đến được cái chân nghệ thuật thì cái đích cuối cùng: một ly trà ngon mới thật là viên mãn. Không phải ngẫu nhiên mà trong tất cả các thức uống của cõi nhân sinh này, trà được xem là nghệ thuật tinh vi nhất. Này nhé, cũng một đồi trà, nhưng trà hướng Đông (Đông pha) bao giờ cũng ngon hơn trà hướng Tây (Tây pha). Bởi cây trà hướng Đông đón nhận những tia nắng mặt trời buổi sớm nên phản ứng sinh trưởng khác với cây trà hướng Tây. Lại nữa, cũng một vườn trà nhưng bốn mùa xuân, hạ, thu, đông là bốn mùa trà với bốn mùa hương vị. Tuyệt hảo ... Xem toàn văn

Phương pháp pha trà Long Đậu

Phương pháp pha trà Long Đậu

Trà Thái Nguyên có thể coi là một “Danh Trà” đất Việt (đáng tiếc), trà Thái được sử dụng hàng ngày, trong hầu như mọi gia đình Việt Nam, từ Thành thị đến Nông thôn, từ danh gia vọng tộc đến phó thường dân, … , “trà Thái” có thể được coi như là thức uống phổ dụng nhất trên đất Việt sau chè Tươi chè xanh, chè quê]

Vậy phải pha chế thế nào để có được một chén trà Thái ngon, tôi xin chia sẻ cùng quý vị Kỹ thuật pha căn bản có thể sử dụng hàng ngày tại chốn “Trà Thất” của quý vị. Chúng tôi sử dụng Bạch Hạc là giống trà đã tạo nên danh tiếng “trà Thái”, mà cụ thể là trà Long Đậu là Sản phẩm cao cấp của Thưởng Trà đang có bán.

Chuẩn bị

Nước: quý vị dùng nước lọc hoặc nước mưa (nếu có), vì các loại nước này hạn chế các tạp chất tạo mùi lạ sẽ làm ảnh hưởng đến hương của Trà.

Trà cụ (căn bản cũng là quan trọng nhất):  Xem toàn văn

Hương trà Gò Loi

Hương trà Gò Loi

Xưa nay, nhắc đến trà Việt, trong tâm thức dân ta nghĩ ngay đến những cái nôi Thái Nguyên, Hà Giang, Bảo Lộc… Ít ai biết ở đất Hoài Ân xứ Nẫu có một vùng trà Gò Loi một thời vang bóng.

Bén duyên

“Ngày xưa, cam khổ là loại trà quý, là vật dụng tiến của các chúa Nguyễn. Người ta dùng cả hai loại trà cam và khổ để tiến vua”. Vốn mê trà nên khi đọc được mấy dòng ấy trong sách Nước non Bình Định của Quách Tấn, tôi tức tốc đi tìm.

Về đến thành phố Quy Nhơn, hỏi suốt ngày đầu tiên mới được một người mách: Ở vùng Kim Sơn, Vạn Hội, Lạc Phụng núi Chúa thuộc huyện Hoài Ân có hai loại trà mọc hoang dã trên đồi gò, ven chân núi, rất quý hiếm, cho đến nay không dễ ai thuần hóa đem về trồng trong vườn nhà được. Một là trà cam, một là trà khổ. Tôi điện thoại cầu cứu anh Trần Bá Phùng, thư ký tòa soạn báo Bình Định.

Gặp nhau, vừa hỏi trà cam, khổ anh đã hào hứng: “Năm 1997, chính tôi đã được uống ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề