Trang chủ

Từ khóa: văn hóa trà Việt

Tiền Phong / Hồi sinh TRÀ CỔ

Tiền Phong / Hồi sinh TRÀ CỔ

Những loại trà thuần Việt tưởng đã bị tuyệt diệt, đang trở lại trên nhiều bàn nước gia đình nhờ nỗ lực của một người trẻ tuổi mê trà cổ.

Bắc lấy thìa tre múc trà vào ấm, đun nước sôi bằng ấm Tetsubin (ấm gang của Nhật), rót nước vào ấm tử sa, rưới phủ toàn bộ bên ngoài ấm. Vài giây sau, rót nước ra tống thủy tinh, từ tống rót ra hai chén sứ Cảnh Đức màu trắng cho khách và cho mình. Trà này nước màu vàng nhạt, uống nhẹ bụng, nhưng vài chén lưỡi có cảm giác dày lên, dư vị chát. Chủ quán Thưởng Trà nói: “Hậu vị rất hay”.

Việt Bắc đã làm ra 4 thương hiệu trà thuần Việt: Bạch Hạc, Lạc Sơn, Âu Sơn, Hồng Hạc, được giới sành trà bọi là Ưu Việt Trà.

CÓ SẢN PHẨM MỚI THẤY MÌNH ĐANG SỐNG

Ông chủ trẻ của Thưởng Trà thích dùng ấm tử sa – làm từ loại đất cùng tên chỉ có ở vùng Nghi Hưng – Trung Quốc, màu vàng nâu sành hoặc hơi pha đỏ tiết gà. Ban đầu nghệ ... Xem toàn văn

Tạp chí Văn Hóa Doanh Nhân / Trà Bạch Hạc – Cảm nhận sự thuần khiết của thiên nhiên và con người

Tạp chí Văn Hóa Doanh Nhân / Trà Bạch Hạc – Cảm nhận sự thuần khiết của thiên nhiên và con người

Dọc đất nước Việt Nam trà tồn tại đa dạng, nhất là hương-vị của nó, tại mỗi vùng với đặc tính khí hậu-thổ nhưỡng khác nhau đã tạo ra những loại trà có hương-vị với sự quyến rũ rất khác biệt. Nhưng hẳn bất kì ai, dù là người am hiểu hay chỉ người dân thôn dã đều đã từng biết đến các sản phẩm trà bắt nguồn từ Tân Cương – Thái Nguyên hoặc thậm chí đã từng tâm đắc với nó. Đặc biệt nhất phải nhắc đến là trà Bạch Hạc – Tân Cương quý vì nó mang trong mình chất đất Thái Nguyên, được nuôi sống bởi thứ nước cội nguồn và niềm đam mê, nhiệt huyết của con người Thái Nguyên chân chất, mộc mạc.

Cuộc trò chuyện giữa tôi với “trà nhân” Việt Bắc về những sản phẩm trà quý vào một ngày mùa thu Hà Nội trong không gian Thưởng Trà Quán đã đưa tôi trở lại câu chuyện về người đầu tiên mang giống trà Bạch Hạc về trồng trên vùng đất bán Sơn-Địa Tân Cương-Thái Nguyên. Ngày đó, cụ Nghè Sổ là người đầu tiên có ... Xem toàn văn

Trà hương trên đất B’lao

Trà hương trên đất B’lao

Khởi đầu ngày mới với một tách trà hương là thói quen của không ít khách thưởng trà. Sáng tinh mơ, khi sương núi còn la đà trên nhánh cây trước ngõ, pha một ấm trà, hương thơm nhè nhẹ lan tỏa cõi lòng, làm ta thấy nhẹ nhàng, thanh thoát.

Trà B’Lao chế biến theo cách làm trà xanh, phù hợp với thị hiếu uống trà của người Á Đông. Đọt trà tươi hái về, được đem vào lò xào, vò, sấy khô để thành trà mộc. Trà mộc sơ chế này có thể pha nước uống. Nhưng có lẽ, cây trà B’Lao sinh trưởng trong một vùng mưa nhiều, nên hương trà không đượm. Người “đàng trong” lại chuộng trà đượm hương, nên phần lớn trà B’Lao là trà có ướp hương các loài hoa, mà người Việt ưa chuộng như hoa sen, hoa sói, hoa lài. Thỉnh thoảng cũng có người ướp trà hương hoa ngọc lan hay hương hoa mộc, nhưng không mấy phổ biến, chỉ để dùng trong gia đình.

Trà bạch mao hảo hạng ướp hương sen được giới thưởng trà cho là “đệ nhất trà hương”. Có điều, trà hương sen không chế ... Xem toàn văn

Nghệ thuật uống trà ở Việt Nam

Nghệ thuật uống trà ở Việt Nam

1. Nghệ thuật thưởng trà dân gian Việt Nam

Người Nam đã uống trà từ lâu, và ở nửa sau thiên kỉ thứ nhất, ở miền đồi núi trung du và châu thổ, người Việt đã trồng chè. Ở Cửu Chân (tên gọi Thanh Hóa thời xưa) có núi Chè, đặt tên chữ là Trà Sơn.

Sách Trà Kinh của Lục Vũ đời Đường chép: “Qua lô [= chè] ở phương Nam cũng giống như “dính” [= chè phương Bắc] mà búp nhị đăng đắng. Người ta pha nước uống thì tỉnh mỉnh, suốt đêm khó ngủ. Giao Châu và Quảng Châu rất quý thứ chè ấy. Mỗi khi có khách quí đến chơi thì pha mời”.

Chứng tích trà Việt còn lưu lại trên những bình bát trà gốm Việt- Dao (proto-celadon) từ thời Bắc thuộc, và hưng thịnh dưới thời Phật giáo Lý- Trần. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy tại Nông Cống (Thanh Hóa) trong số các đồ tuẫn táng (chôn cùng người chết) có các loại chén trà bằng đất (từ lò Bát Tràng, Cầu Cây, Đông Sơn) có niên đại ngang với hai đời ... Xem toàn văn

Quá trình truyền bá và phát triển kỹ thuật chế biến chè

Quá trình truyền bá và phát triển kỹ thuật chế biến chè

1. Quá trình truyền bá và phát triển ở Đông Nam Á cổ và Trung Quốc

Đầu tiên, con người sử dụng lá chè trực tiếp, chưa hoặc hầu như chưa qua chế biến.

Thô sơ nhất là cách ăn sống lá chè như một thứ thuốc (người Kachin ở miền Bắc Miến Điện hiện nay vẫn còn phong tục này).

Hoặc dùng lá chè tươi nấu nước uống (người Việt ở những vùng trồng chè hiện nay vẫn uống như vậy).

Hay trộn lá chè cùng một số cây cỏ khác đun làm thuốc uống (vào tk IV-V, dân chúng ở lưu vực sông Dương Tử thường lấy lá chè đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và đôi khi cả hành nữa; tập quán này vẫn còn thịnh hành ở người Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ  [Okakura Kakuzo 1967: 37]).

Người dân tộc Thái và Ngõa sống tại vùng chè phía nam Vân Nam có tục uống chè nướng: họ hái từ 1 tôm đến 5-6 lá chè đem nướng trực tiếp trên lửa cho đến khi cháy xém vàng, ... Xem toàn văn

Phương pháp pha trà Shan Tuyết Suối Giàng (trà búp)

Phương pháp pha trà Shan Tuyết Suối Giàng (trà búp)

Trà Shan Tuyết Suối Giàng có xuất xứ từ xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trà cổ thụ Suối Giàng có hậu vị rất tốt, hương thanh mát và tiền vị đậm, đây là một loại trà tôi cho là rất khó pha, nếu nhiệt độ nước và thời gian của từng bước quản lý không tốt thì trà sẽ có vị nồng và hương gắt nếu đặc có thể sẽ khó uống.

Một chén trà cổ thụ Suối Giàng pha đúng cách có màu nước vàng nhạt trong-sáng, hương thoang thoảng, hậu vị sâu-dài. Vậy làm sao để có được chén trà đó ?. Dưới đây là cách pha trà được tổng kết từ kinh nghiệm mang tính chủ quan của Thưởng Trà Quán [xong cũng đã được nhiều người sành trà kiểm nghiệm và đánh giá cao], nay chúng tôi xin mang cách đó đến với mọi người, rất mong được nhận thêm những góp ý từ cộng đồng để chúng ta có thêm những chén trà ngon!

Chuẩn bị

Nước: quý vị dùng nước lọc hoặc nước mưa (nếu có), vì các loại nước này hạn chế các tạp chất tạo mùi lạ sẽ làm ... Xem toàn văn

“Trà Bắc, đèn dầu” ở cố đô Huế

“Trà Bắc, đèn dầu” ở cố đô Huế

Đó là cái tên mà những vị khách khi đến quán thưởng thức hương vị “Trà Bắc” ngay trong lòng Cố Đô Huế ở đường Trần Văn Kỷ – Tp Huế đặt cho Nguyễn Phước Lộc Uyển.

Sinh ra trong một gia đình có 3 anh chị em ở Vĩ Dạ (TP Huế), theo học ngành văn thư, thế nhưng Nguyễn Phước Lộc Uyển lại có đam mê kinh doanh từ nhỏ. Uyển đã tự kiếm tiền bằng nhiều cách kinh doanh để tự trang trải cho việc học của mình mà không cần đến sự trợ cấp của gia đình.

Việc kinh doanh và hiện đang làm chủ quán trà Bắc (trà Miền Bắc) ngay trên đất cố đô đến với Uyển cũng là một sự tình cờ. Uyển kể lại: “Vào một buổi tối khi được bạn bè rủ đến ga Huế uống trà. Việc kinh doanh trà thuốc ở ga rất nhộn nhịp và đông đủ mọi tầng lớp khách hàng nhất là các bạn sinh viên.

Điều lạ là ngoài ánh điện ở sân ga, các quán trà lại có thêm ánh đèn dầu trên những bàn trà. Riêng trà được pha vào ấm đậm chất ... Xem toàn văn

Trước thềm cung Diên Thọ bàn chuyện thưởng trà xưa-nay

Trước thềm cung Diên Thọ bàn chuyện thưởng trà xưa-nay

Đất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ hàng ngàn năm nay.

Vào thời Đường (619 – 907), các vị cao tăng ở Giao Châu như Định – Không trưởng lão, Duy – Giám pháp sư… thường được thỉnh sang Kinh đô Trường An (Trung Quốc) thuyết giảng kinh Phật. Giới văn, thi nhân Trung Quốc rất kính trọng, hâm mộ và có giao tình thân thiết với các nhà sư Việt. Thơ từ xướng họa của họ còn lưu lại trong sử sách (xem Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn – Toàn Đường Thi).

Qua việc giao lưu, truyền bá đạo Phật có thể “Trà thang lễ” theo Bách Trượng thanh quy và “Trà Kinh” của Lục Vũ đã được giới tăng sĩ phổ biến trong chùa chiền ở Giao Châu. Dần dần việc uống trà nâng lên thành sinh hoạt văn hóa, thú vui tao nhã di dưỡng tinh thần, tu tâm dưỡng tính. Tiến sĩ Trương Tịch làm thơ tặng Nhật tăng có câu: Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề