Trang chủ

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Phụ chú :

[3] – xem thêm chi tiết chủ đề trà thụ 茶树 (cây trà) trên mạng từ BaiduWiki, với các chi tiết đáng chú ý như trà ở Việt Nam còn có các dạng là sà, choè, già – ba dạng sau người viết chưa từng nghe thấy (có khả năng là giọng địa phương, như choè với nhị trùng âm/nguyên âm đôi oe có thể từ miền Trung /giọng Quảng), tuy nhiên cũng rất phù hợp với quá trình ngạc hoá và xát hoá đã viết bên trên.

[4] – GS Nguyễn Tài Cẩn đã viết về liên hệ đ-tr trong cuốn “Một số vấn đề về chữ Nôm” NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp 1985 (Hà Nội); Cũng như GS Lê Văn Quán trong cuốn “Nghiên Cứu về chữ Nôm” NXB Khoa Học Xã Hội 1985 (Hà Nội); Học giả Edwin Pulleyblank trong “Lexicon of reconstructed pronunciation in Early Middle Chinese, Late MC and Early Mandarin” (1991) phục nguyên âm Trung Cổ của trà (chá BK) là *dra:i/*dre: so với dạng *d-lâ của GS Axel Schuessler trong “ABC Etymological Dictionary of Old Chinese” (University of Hawai’i, 2007).

Một nhận xét đáng chú ý ở đây là âm đồ HV 塗 hay涂có thể đọc là đồ (同都切,音徒 đồng đô thiết, âm đồ – theo Quảng Vận/QV, Tập Vận/TV …); Nhưng còn có thể đọc là trà (宅加切, 直加切,音茶 trạch gia thiết, trực gia thiết âm trà theo QV, TV) rõ ràng cho thấy liên hệ trực tiếp giữa đồ và trà. Âm trà 茶 còn xát hoá để cho ra dạng x/sà (鋤加切,垞平聲 sừ gia thiết, xà bình thanh). Tiếng Mường (Bi) còn một dạng để chỉ đường đi (đồ, 涂 ) là khả so với khà là già; Như khả đác (đường thuỷ), khả cut (đường cụt), khả cái (đường cái, đường lớn), khả hầng (đường rừng) … Phụ âm đầu kh- trong tiếng Mường tương ứng với tổ hợp phụ âm kl-/kr- của tiếng tiền Nam Á: như *krong (sông) thì tiếng Mường là không so với giang HV (jiang1 BK) và dạng xát hoá sông của tiếng Việt; Các dạng biến âm này đều phù hợp với khả năng đồ, trà, chè liên hệ đến dạng cổ hơn *kla như đã viết bên trên. Tương quan Việt-Mường và Hán Cổ so với các ngôn ngữ láng giềng như Lô Lô, Choang, Môn … cần được nghiên cứu sâu xa hơn để hiểu rõ hơn hiện tượng giao lưu văn hoá cổ đại này ở tại Bắc Việt và Nam TQ.

[5] – theo Tự Điển Thuật Ngữ Phật Giáo của Soothill và Hodous.

Trà là âm Hán Việt (HV) viết bằng bộ thảo hợp với chữ xà 茶 : theo các tài liệu Trung Quốc (TQ) thường giải thích là loại chữ hội ý 会意 kết hợp các chữ nhân 人 (người) gặt hái các lá cây (thảo) 艹 từ trên cây (mộc) 木 (bây giờ viết là 朩). Chữ trà này không thấy trong triện văn, kim văn hay giáp (cốt) văn : điều này chứng tỏ sự ra đời muộn màng của chữ này – có tác giả cho rằng chữ trà xuất hiện từ thời Đường [3] (“Ngữ Lâm Thú Thoại” trang 571) – có tác giả còn cho năm sinh của chữ trà là 725 SCN (xem thêm chi tiết). Một số học giả khác như L. Wieger cho rằng chữ trà gồm bộ thảo và chữ dư (ta) 余 hài thanh (bỏ một nét ngang)(xem thêm chi tiết). Thuyết Văn Giải Tự cũng không ghi dạng trà này. Quả đúng như thế, theo Vận Hội (Khang Hy trích ra) thì trà là

【韻會】茗也。本作荼,或作,今作茶。

[ Vận Hội ] mính dã . Bổn tác đồ , hoặc tác trà , kim tác trà

Hay đồ chính là âm cổ hơn của trà (để ý chữ đồ 荼 có thêm một gạch ngang so với chữ trà 茶).

Trở lại thời Đông Hán, Hứa Thận nhận xét về chữ đồ trong Thuyết Văn Giải Tự/TVGT

苦荼也。从艸余聲〖注〗臣鉉等曰:此即今之茶字。同都切

Khổ đồ dã. Tòng thảo dư thanh [ Chú ] Thần Huyễn Đẳng viết : thử tức kim chi trà tự . Đồng đô thiết

Rõ ràng là hai dạng đồ và trà được dùng trong thời Hán. Thật ra, không nên ngạc nhiên khi âm đồ là dạng cổ hơn trà vì nguyên âm ô là dạng cổ hơn nguyên âm a như Nôm Nam, vốn bản, bố ba … Còn tương quan của phụ âm đầu tắc đ với tr rất dễ nhận ra [4] trong tiếng Việt và Hán Việt/HV như

Đồng 瞳 (tử) – tròng mắt

Đuốc – chúc

Đột (nhiên) – chợt

Đầm – chằm – chèm

Đìa – trì

Đỏ – chu 朱 (màu đỏ)

Đò – chu 舟 (thuyền nhỏ)

Đố 蠹 – chú 蛀

Đũa – trợ

Đuổi – truy

Đản – trần

Đản – trứng

Định 定 chính chánh – trán (theo “Vận Hội” cổ thông chánh 《韻會》古通正)

Đoàn – tròn

Đoàn 團 – truyền 傳 cùng thanh phù chuyên 専, so với chuyên/đoàn 摶 (vo tròn)

Điền Hoàn 田 完 (trong ‘Luận Ngữ’) – Trần Hoàn 陳 完 (trong ‘Xuân Thu’)

Đục – trọc

Độc (độc lâu, đầu lâu) – trốc

Đồn – truyền – chuyền (loan)

Đốn – truân – xuân

Độn – trốn

Đinh (bộ trùng + chữ đinh 丁 hài thanh/HT) – chuồn (chuồn)

Đìa – trì

Điểm (chữ chiêm HT) – chấm

Điệp – chập, chắp, chất

Đuốc – chúc

Đúng – trúng (trung HT)

Đổng 董 – Trọng 重 – Gióng/thánh Dóng/Gióng là Phù Đổng thiên vương – một trong Tứ Bất Tử. So sánh với chủng 種 – giống, giồng – trồng cũng có thanh phù trọng重. Chữ Nôm dỏng (giỏng) còn dùng bộ khẩu 口 hợp với chữ Đổng董: theo Truyền Kỳ Mạn Lục ‘dỏng môi mà rao lời gièm chê’

Đồng 童 – trống (không có cây cỏ như đồi, đất; không có tóc như đầu hói)

Đồng 瞳 (tử) – tròng mắt

Đồng 僮 – Tráng 壯 (Choang)

Đồ – chè – trà/chà (xem hình vẽ so sánh phạm trù nghĩa bên dưới)

Trích TVGT:

(茗 mính HV) 荼芽也 – 從艸名聲

Đồ nha dã – tòng thảo danh thanh

668 艸部: 荼:苦荼也。從艸余聲

668 Thảo bộ : đồ : khổ đồ dã . Tòng thảo dư thanh

Đồ là loại rau đắng (trà đắng). So sánh với mính (mầm trà, trà non, trà), ta thấy ngay các từ mính, đồ đã hiện diện thời Đông Hán. Mính có các dạng chữ triện như sau :

mính – HV

Chữ đồ lại có nhiều dạng chữ triện hơn, cho thấy được phổ thông hơn – trích dẫn tại đây

đồ – HV

Vết tích của âm cổ hơn của trà là đồ còn thấy trong địa danh như huyện Trà Lăng 茶陵 (thuộc tỉnh Hồ Nam) mà thời Tây Hán gọi là Đồ Lăng 荼陵 ; Trà mi 茶縻 còn gọi là (cây) đồ mi 荼縻 thuộc họ Hoa Hồng (Rubus rosifolius) – hoa đồ mi nhỏ, đẹp với quả ngọt và có thể ăn được.; Đồ Bàn còn gọi là thành cổ Chà Bàn (tỉnh Bình Định) … Ngoài ra, một tục lệ thường gặp ở Ấn Giáo, Phật Giáo … là hoả táng – phiên nghĩa [5] của tiếng Phạn (Sanskrit) jhapita với dạng cổ là Đồ/Xà Duy 闍維, hay Đồ Tị Đa 闍鼻多 … so với dạng hiện nay là Trà Tỳ 茶毘; Không Hành Nữ 空行女 là cụm từ dịch nghĩa của tiếng Phạn ḍākinī डाकिणी, phiên âm là Đồ Cát Ni 荼 吉 尼 hay Đồ Chỉ Ni, Nã Cát Nhĩ, Xá Chỉ Ni … cũng hỗ trợ cho biến âm đ – tr/ch (x) của đồ – trà. Không phải ngẫu nhiên mà ta có liên hệ giữa cách nói giở trò và giả đò : giả (trà nhưng có thể là không thật) tương ứng với trò (biến âm của trà nhưng có thể nghĩa là diễn chơi) – tiếng Việt (khẩu ngữ) còn duy trì nhiều nghĩa và âm rất cổ mà tiếng Trung (Hoa) không còn dùng nữa hay rất hiếm !

Xem lại nghĩa chữ đồ (đồ, tồ Mường Bi) và trà/chè (chà Mường Bi) trong tiếng Việt/ Mường ta thấy phạm trù nghĩa của đồ đã thu hẹp lại (nghĩa thu hẹp) : từ thức ăn, thức uống, dụng cụ, đồ chơi, đồ cúng … đến thức uống đặc biệt (trà, chè) hay món ăn ngọt và lỏng (chè). Điều này rất phù hợp với kết quả phần trên – đồ là âm cổ hơn của trà – do đó có khả năng mang nhiều nghĩa hơn vì hiện diện trong ngôn ngữ lâu hơn.

Chú ý : đồ 徒 chỉ một nhóm đồ, một lũ …cùng âm nhưng lại viết khác hơn đồ trà chà chè 荼 …v.v…

Sự thu hẹp nghĩa của đồ (trà) với nghĩa nguyên thuỷ là đồ ăn của tiếng Việt còn phù hợp với câu chuyện về vị Tể Tướng (Prime Minister) Án Anh của nước Tề thời Tề Cảnh Công (547 – 490 TCN) đã từng ăn trứng và trà (tea food) trong bữa ăn – theo cuốn truyện sử Yến Tử Xuân Thu 晏子春秋; Hay câu chuyện về dân Ngô 吳 đã từng nấu trà làm canh và trà là đồ cúng tế từ thời cổ đại cho tới thời Xuân Thu …v.v…

Nguồn: Lý Học Đông Phương

Bài kế tiếp: Các tên gọi khác của trà và truyền thuyết

Chuyên đề:

Các bài viết khác

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề