Trang chủ

Trà Thư

Trà trong thế giới hiện đại

Trà trong thế giới hiện đại

Cho đến nay trà vẫn được xem là một trong những thức uống tốt nhất được cả thế giới công nhận.

Ở phương Tây người ta sáng tạo ra cách uống trà (trà đen, tức Hồng trà) pha kèm với đường, sữa tươi, hay mật ong.

Dân Trung Đông lại còn cho thêm những gia vị khác như quế, hồi, gừng, v.v. vào trà. Có lẽ do Trung Đông quá nóng, nên dân xứ này không thể chống nóng bằng cách uống trà đá, mà phải dùng cách “lấy độc trị độc”, uống trà nóng pha với gia vị nóng để cân bằng trong-ngoài (cũng như trong khi ta chống nóng bằng cách mặc thoáng mát thì họ che kín toàn thân bằng nhiều lớp quần áo thật dày).

Ngày nay, việc uống trà đang biến hóa muôn hình muôn vẻ để đáp ứng những nhu cầu vô cùng đa dạng của một xã hội công nghiệp khi con người luôn sôi động, hối hả.

Về nguyên liệu, trà ngày nay có thể được pha trộn với các hương liệu như dâu, cam, táo, nho, chanh,.. tạo nên sự phong phú về hương vị. Về hình thức, ngoài dạng trà ... Xem toàn văn

Nghệ thuật uống trà ở Việt Nam

Nghệ thuật uống trà ở Việt Nam

1. Nghệ thuật thưởng trà dân gian Việt Nam

Người Nam đã uống trà từ lâu, và ở nửa sau thiên kỉ thứ nhất, ở miền đồi núi trung du và châu thổ, người Việt đã trồng chè. Ở Cửu Chân (tên gọi Thanh Hóa thời xưa) có núi Chè, đặt tên chữ là Trà Sơn.

Sách Trà Kinh của Lục Vũ đời Đường chép: “Qua lô [= chè] ở phương Nam cũng giống như “dính” [= chè phương Bắc] mà búp nhị đăng đắng. Người ta pha nước uống thì tỉnh mỉnh, suốt đêm khó ngủ. Giao Châu và Quảng Châu rất quý thứ chè ấy. Mỗi khi có khách quí đến chơi thì pha mời”.

Chứng tích trà Việt còn lưu lại trên những bình bát trà gốm Việt- Dao (proto-celadon) từ thời Bắc thuộc, và hưng thịnh dưới thời Phật giáo Lý- Trần. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy tại Nông Cống (Thanh Hóa) trong số các đồ tuẫn táng (chôn cùng người chết) có các loại chén trà bằng đất (từ lò Bát Tràng, Cầu Cây, Đông Sơn) có niên đại ngang với hai đời ... Xem toàn văn

Nghệ thuật uống trà ở Trung Quốc và Nhật Bản

Nghệ thuật uống trà ở Trung Quốc và Nhật Bản

Từ chỗ ban đầu được xem như một loại thuốc, trà không đơn thuần là một loại nước giải khát mà là sự kết hợp tuyệt vời của hưởng thụ vật chất với giải trí tinh thần.Văn hóa trà Trung Quốc đạt tới đỉnh cao vào thời Đường (618-905) và thời Tống (907-1279).

Sự phát triển của nghệ thuật uống trà có thể chia làm 3 giai đoạn chính: trà nấu (đoàn trà, dùng trà bánh), trà khuấy (dùng bột trà hay mạt trà) và trà ngâm (tiễn trà, dùng trà rời).

1. Giai đoạn dùng trà bánh để nấu

Lão Tử (tk V tCN) đặt ra nghi lễ thưởng thức trà trong tách nhỏ gọi là “kim dược” (thuốc quý như vàng). Cuốn Án Tử Xuân Thu đã viết: “Vào thời Tề Cảnh công, tể tướng Án Anh thường có lối ăn uống đạm bạc, nướng vài ba trái trứng và uống trà ngon”. Ngô Chí, Vĩ Diêu truyện nói: “Tôn Hạo, mỗi khi thiết tiệc đãi khách, đếu bắt buộc mỗi tân khách phải uống cạn bảy thăng rượu, tuy không tận vào miệng song cũng tưới đổ cho hết; Diêu uống rượu không quá hai thăng, Hạo ... Xem toàn văn

Quá trình truyền bá và phát triển kỹ thuật chế biến chè

Quá trình truyền bá và phát triển kỹ thuật chế biến chè

1. Quá trình truyền bá và phát triển ở Đông Nam Á cổ và Trung Quốc

Đầu tiên, con người sử dụng lá chè trực tiếp, chưa hoặc hầu như chưa qua chế biến.

Thô sơ nhất là cách ăn sống lá chè như một thứ thuốc (người Kachin ở miền Bắc Miến Điện hiện nay vẫn còn phong tục này).

Hoặc dùng lá chè tươi nấu nước uống (người Việt ở những vùng trồng chè hiện nay vẫn uống như vậy).

Hay trộn lá chè cùng một số cây cỏ khác đun làm thuốc uống (vào tk IV-V, dân chúng ở lưu vực sông Dương Tử thường lấy lá chè đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và đôi khi cả hành nữa; tập quán này vẫn còn thịnh hành ở người Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ  [Okakura Kakuzo 1967: 37]).

Người dân tộc Thái và Ngõa sống tại vùng chè phía nam Vân Nam có tục uống chè nướng: họ hái từ 1 tôm đến 5-6 lá chè đem nướng trực tiếp trên lửa cho đến khi cháy xém vàng, ... Xem toàn văn

Nguồn gốc cây chè và việc dùng chè

Nguồn gốc cây chè và việc dùng chè

1. Nguồn gốc cây chè

Chè là loài cây có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Cây chè có tên khoa học là Camelia Sineusis, thuộc họ Theacae, khí hàn, vị khổ cam, không độc. Đây một loại cây xanh lá quanh năm, có hoa màu trắng. Cây trà phải trồng khoảng 5 năm mới bắt đầu hái và thu hoạch trong vòng 25 năm.

Dựa vào đặc tính sinh trưởng của cây chè, các nhà thực vật học xác định vùng đất mà cây chè có thể xuất hiện và sinh trưởng tốt phải có những điều kiện sau [Mạnh Thị Thanh Nga 2001: 67-68]:

1) Quanh năm không có sương muối.

2) Có mưa đều quanh năm với lượng mưa trung bình khoảng 3000 mm/năm.

3) Nằm ở độ cao 500-1000 mm so với mực nước biển, môi trường mát mẻ, không nắng quá hoặc ẩm quá.

Những vùng đất thỏa mãn các điều kiện trên là:

1) Nửa phía nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

2) Bắc Việt Nam.

3) Bắc Miến Điện, Thái Lan và Lào.

4) Vùng núi phía đông bang Assam của Ấn Độ.

Người ta hay bất đồng ý kiến về nguồn ... Xem toàn văn

Hương vị một tách trà

Nơi thiền viện tôi, cũng như ở nhiều thiền viện khác, có treo một bức chân dung Bồ Ðề Ðạt Ma. Ðó là một bức họa bằng nước lã và mực tàu với nét bút thật hùng mạnh.

Cặp lông mày, đôi mắt và chiếc cằm của Bồ Ðề Ðạt Ma biểu lộ một hùng khí thật ngang tàng. Bồ Ðề Ðạt Ma sống vào khoảng thế kỷ thứ năm của Tây lịch, được xem như một vị tổ sư đầu của thiền tông ở Trung Hoa. Bồ Ðề Ðạt Ma là một vị tăng từ Ấn Ðộ sang. Có thể một phần những điều ghi chép về đời Bồ Ðề Ðạt Ma trong sử sách chỉ là những điều hoang đường, nhưng nhân cách cũng như tinh thần của Bồ Ðề Ðạt Ma đã làm cho ngài trở nên thần tượng của những người theo đuổi thiền học. Bất cứ một ông thầy tu thiền tông nào cũng ao ước đạt tới tinh thần và phong độ của Bồ Ðề Ðạt Ma. Ngài là một hình ảnh của một người đã đạt đến trình độ tự chủ và tự tại hoàn toàn đối với bản thân và hoàn cảnh, ... Xem toàn văn

Trà cụ Việt qua các thời kỳ

Việt Nam là một trong tám vùng quê hương của Trà còn lại trên thế giới. Không những vậy văn hóa Trà đã cùng đồng hành xuyên thế kỷ trong dòng chảy lịch sử văn hoá của đất nước… Nền văn hoá Trà đậm đà bản sắc Việt đã góp sức đưa Việt nam trở thành nước xuất khẩu trà thứ 5 trên thế giới và ước đạt doanh thu 300 triệu USD vào năm 2011. Đã đến lúc chúng ta cần biết một cách đầy đủ hơn về Trà nghệ Việt và tôn vinh những di sản văn hóa trà mà thế hệ cha ông một thời gắn bó, dầy công vun đắp.

Trà cụ Việt

Có thể thấy rất rõ trà cụ Việt không có gì nổi trội, song cũng không thể phủ nhận những nét riêng, độc đáo mà nền văn hoá trà  Trung Hoa cũng chưa có được. Những vần thơ của Trần Nguyên Đán, khẳng định dòng trà “Bác học” trong giới quý tộc Đại việt đương thời đều theo mô tuýp Trung Hoa và còn dùng chảo nấu trà, một lọai trà cụ thịnh hành thời Đường – Tống. “Trà ướp Hoa Lan nấu ... Xem toàn văn

Văn hóa thưởng trà của người Hà Nội

Văn hóa thưởng trà của người Hà Nội

A – Văn hóa thưởng trà của người Hà Nội xưa

Ở Việt Nam cây chè đã được người dân biết đến và sử dụng như một loại thức uống phổ biến trong đời sống của nhân dân từ bao đời nay. Những vùng chè nổi tiếng như Thái Nguyên, phú Thọ, Yên Bái, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lâm Đồng… là nơi trồng và sản xuất ra những sản phẩm chè chất lượng cao.

Tuy nhiên có nhiều cách thức chế biến khác nhau để tạo ra những loại nước uống mang đặc trưng riêng. Theo cách hiểu chung của người Việt Nam thì việc hái lá cây chè, rửa sạch, vò nát để đun nước uống thì gọi là chè tươi (hoặc chè xanh tùy từng vùng). Nhưng khi những búp chè tươi trải qua những cung đoạn chế biến như xao khô, phơi, sấy và có thể là ướp hương các loại hoa thì gọi là trà. [1] Vì quá trình chế biến khá phức tạp và tốn nhiều công sức nên giá thành của trà đắt hơn rất nhiều so với thứ chè cây tại vườn của các gia đình.

Hà Nội là thủ đô, là ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề