Trang chủ

Trà Thư

Danh nhân Trà Việt

Các danh nhân văn hóa trà Việt Nam

Trong không gian văn hoá Á Đông, sự phát triển của văn hoá trà là một thực tế sinh động của nghệ thuật sống, nghệ thuật cảm nhận ngày càng thăng hoa và bay bổng. Trà không chỉ bước vào thế giới thi ca vào thế kỷ thứ VIII, Đời Nhà Đường trên cả đất nước Trung Hoa rộng lớn, mà còn là nguồn cảm hứng cho giới văn nhân của nhiều dân tộc Á Đông.

Ở Việt Nam, trà hiện diện trong văn học dân gian thông qua ca dao, hò vè, câu đối, tục ngữ truyền khẩu và văn chương với những bài thơ kiệt tác của các nhà văn lừng danh xưa và nay. Tập quán uống trà thời xưa của danh nhân, luôn biểu lộ một nhân sinh quan, một nếp nghĩ, một nghệ thuật sống, một cái nhìn bao quát về cuộc đời trong một chén trà. Tâm hồn thi nhân Việt Nam luôn cởi mở, hài hoà, trong tinh thần nhân ái, cảm thông chia sẻ là nét đặc trưng của đạo đức truyền thống Việt Nam. Ngoài việc thưởng thức cái đẹp ... Xem toàn văn

Trà Ẩm (Trà Kinh – P7)

Trà Ẩm (Trà Kinh – P7)

Ba giống: có cánh biết bay, có lông biết chạy, có miệng biết nói, thảy sinh trong vòm trời đất, cậy việc ăn uống mà giữ lấy sinh cơ, mới hay cái nghĩa lý của sự uống đã dài lâu lắm rồi! Đến như loài người, muốn đỡ khát thì uống lấy nước, muốn tiêu sầu thì uống lấy rượu, còn muốn tỉnh mộng mê thì uống lấy trà.

Trà làm thức uống, khởi từ Thần Nông thị [47], truyền bởi Lỗ Chu công; Tề có Án Anh [48]; Hán có Dương Hùng, Tư Mã Tương Như [49]; Ngô có Vi Diệu [50]; Tấn có hội Lưu Côn [51], Trương Tải [52], viễn tổ Nạp [53], Tạ An [54], Tả Tư [55], đều là những người ham uống trà. Thấm thời nhuần tục, thịnh ở quốc triều, vùng lưỡng đô [56] và hai đất Kinh, Du [57], dân chúng coi trà là thức uống trong nhà.

Trà có trà thô, trà tán, trà mạt, trà bánh. Các phép chặt, đun, sấy, giã, sau cất vào bình, vào phẫu, khi uống thì đem nước sôi ra chần trà, thời gọi đó là phép yểm trà. Hoặc có kẻ dùng hành, gừng, ... Xem toàn văn

Trà chử (Trà Kinh – P6)

Trà chử (Trà Kinh – P6)

 

Phàm sấy trà, chớ nên sấy nơi có gió, có tro. Chỗ ấy ngọn lửa chập chờn, khiến nóng lạnh chẳng được đều vậy. Sấy phải gần lửa, lật giở nhiều lần, đợi khi mặt trà nổi sần, hình như lưng cóc, thì sau đấy mới sấy cách lửa năm tấc. Lá trà co rồi ruỗi thì sấy lại như phép ban đầu. Nếu là trà hong lửa, thì khi hơi nước bốc lên là được; còn là trà hong nắng thì khi trà mềm mại thì thôi.

Thoạt đầu, giả như trà quá non, sau khi chưng chín thì đem giã nóng, lá tuy nát mà nõn búp hẵng còn, dẫu cậy sức lực sĩ, giã chày ngàn cân cũng khó mà làm nó nát cho được. Tựa như đem đấu quét sơn mà đong lấy hạt châu, người tráng sĩ có chạm vào nó, cũng chẳng thể nào giữ nó ở ngón tay cho chắc. Trà sau khi giã xong, thì tựa hồ như không còn thân cốt. Lúc ấy sấy trà, thì đốt nó mum mũm như cánh tay con trẻ. Sấy xong, nhân trà nóng mà đem túi giấy trữ lại, ngõ hầu cho cái ... Xem toàn văn

Lịch sử và xuất xứ của ba loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

Lịch sử và xuất xứ của ba loại ấm Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần

Ấm Mạnh Thần

Trong 3 hiệu Thế Đức, Lưu BộiMạnh Thần, ấm Mạnh Thần có niên đại lâu đời nhất, tác giả là Huệ Mạnh Thần ở Kinh Khê, Nghi Hưng, Giang Tô, không rõ năm sinh năm mất. Đại khái thời của ông là vào buổi cuối Minh đầu Thanh, khoảng từ đời Thiên Khải (1621-1627) vị vua áp chót của nhà Minh tới đời Khang Hy (1662-1722) nhà Thanh. Hiện nay tại Thính Tuyền Sơn Quán ở Trung Quốc còn giữ một ấm trà làm bằng đất sét trắng, lạc khoản (tên hiệu, niên hiệu đề dưới trôn đồ gốm sứ) ghi 11 chữ “Thiên Khải Đinh Mão niên Kinh Khê Huệ Mạnh Thần chế”, từ đó phần nào làm sáng tỏ đối với họ tên, nguyên quán và thời đại sinh sống của ông.

Hai chữ Kinh Khê trong lạc khoản là chỉ nguyên quán, nguồn gốc như sau: Nghi Hưng thời xưa gọi là Kinh Ấp, đến năm Ung Chính thứ 3 đời Thanh, tách làm hai huyện Nghi Hưng và Kinh Khê, năm 1912 thời Dân quốc đã ... Xem toàn văn

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân đài loại ngữ (VĐLN) viết về trà trồng trên núi Am Thiền, Am Giới, Am Các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá nước ta… Uống vào mát tim, phổi, giải khát, ngủ ngon … Hoa, nhị chè có hương thơm tự nhiên

VĐLN cũng trích Trà Kinh [7] ” … trà là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành) …”. Nhận xét của Lê Quý Đôn cũng khá phù hợp với lời ghi nhận trong ” Đồng Quân Thái Dược Lục ” 桐君采藥錄: một tác phẩm cổ đại về Trung y, trích Trà Kinh, Trà Sự (chương 7)

… Hựu nam phương hữu qua lô mộc , diệc tự mính , chí khổ sáp , thủ vi tiết trà , ẩm diệc khả thông dạ bất miên . Chử diêm nhân đãn tư thử ẩm , nhi Giao Quảng tối trọng , khách lai tiên thiết , nãi gia dĩ hương mạo bối ….

(Tạm dịch) Còn phương Nam có cây qua lô – cũng giống như trà (mính) rất đắng chát, nghiền thành mạt (bột) trà, uống thì suốt đêm không ... Xem toàn văn

Bản sắc trà Thái

Bản sắc trà Thái

1. Lý do chọn đề tài.

Nói đến văn hóa ẩm thực Việt Nam, người ta không chỉ nói về sự đa dạng trong các cách thưởng thức món ăn hàng ngày của người Việt, và các cách chế biến đến nguyên liệu của món ăn ra sao mà cách uống cũng có nhiều sự quan tâm đến lạ kì! Uống là một nhu cầu cần thiết của con người nhằm duy trì sự cân bằng trọng lượng cơ thể, đảm bảo nước cho sự phát triển của con người, người ta có thể nhịn ăn ba ngày nhưng không thể không uống nước được. Trong cách uống của người Việt Nam, phải kể đến cái thú uống chè (trà) là một cái thú có từ lâu trên đất nước ta, cho đến nay nó vẫn là một trong những điểm nổi bật trong văn hóa ẩm thực của dân tộc.

Cái thú uống nước chè để bắt đầu câu chuyện, bắt đầu của một ngày mới, trong những buổi làm đồng áng vất vả có chén trà xanh, rồi lãng mạn cao hứng thì vừa uống trà vừa ngâm thơ, âu đó là một cái nét đẹp trong cách ... Xem toàn văn

Trà khí (Trà Kinh – P5)

Trà khí (Trà Kinh – P5)

Phong lư (lò ba chân) : Đúc bằng đồng hoặc sắt, như hình cổ đỉnh. Dày ba phân, mép rộng chín phân, bề trong sáu phân rỗng, quết bằng bùn đất. Lư có ba chân, thảy viết hai mươi mốt chữ cổ. Một chân viết rằng: “Khảm thượng Tốn hạ Ly vu trung” (quẻ Khảm trên, quẻ Tốn dưới, quẻ Ly ở giữa); chân khác lại viết: “Thể quân ngũ hành khứ bách bệnh” (cơ thể cân bằng ngũ hành thì tiêu trừ được trăm bệnh); chân còn lại viết: “Thánh Đường diệt Hồ minh niên chúc” [27] (đúc vào sau năm nhà Đường diệt rợ Hồ). Giữa ba chân có đặt ba cửa, cửa phía dưới là chỗ để thông gió, thả tro vậy. Trên ba cửa viết sáu chữ cổ. Một cửa viết hai chữ “Y công”, một cửa viết hai chữ “canh Lục”, một cửa lại viết hai chữ “thị trà”. Tức “Y công canh, Lục thị trà” (Món canh của ông Y Doãn [28], trà khí của ta Lục Vũ [29]) vậy. Lại nữa, trên lư có đặt ba kiềng : kiềng thứ nhất có đúc “địch”, là giống hỏa điểu (chim lửa), vậy ... Xem toàn văn

Các tên gọi khác của trà và truyền thuyết

Các tên gọi khác của trà và truyền thuyết

Suyễn 荈 là loại trà hái muộn, theo Ngọc Thiên, nhưng Nhĩ Nhã lại ghi nghĩa hơi khác hơn (hái sớm là đồ, trễ là mính – nhưng đều gọi là suyễn). Theo Đường Tân Thư Bản Thảo, gọi tắt là Bản Thảo soạn vào đầu thời Đường, có ghi nhận tuyển (選 xuăn BK) là một tên gọi của đồ – đây có thể là một dạng của suyễn (biến âm s-t). Tương tự như vậy, một số tài liệu như Phương Ngôn, Quốc San Thuấn Trà 国山蕣茶 (một truyện cổ Giang Nam nổi tiếng), cũng ghi một tên gọi trà là thuấn (shùn BK, Unicode 8563) cũng có một thành phần hài thanh là suyễn 舛

《玉篇》 槚,苦荼 – 《爾雅》。晉·郭璞:“早采者爲荼,晚取者爲茗,一名荈蜀人名 之苦茶”

“Ngọc Thiên” mính, khổ đồ . “Nhĩ Nhã” . Tấn – Quách Phác : “tảo thải giả vi đồ, vãn thủ giả vi mính, nhất danh suyễn. Thục nhân danh chi khổ trà” . Quách Phác (276-324) là học giả và sử gia nổi tiếng đời Tấn; Để ý câu cuối của ông ghi chú ‘ … Người Thục gọi là khổ trà …’.

Một nhận xét thêm về thuấn : thường chỉ chi dâm (râm) ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề