Trang chủ

Trà Thư

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Trà là âm Hán Việt (HV) viết bằng bộ thảo hợp với chữ xà 茶 : theo các tài liệu Trung Quốc (TQ) thường giải thích là loại chữ hội ý 会意 kết hợp các chữ nhân 人 (người) gặt hái các lá cây (thảo) 艹 từ trên cây (mộc) 木 (bây giờ viết là 朩). Chữ trà này không thấy trong triện văn, kim văn hay giáp (cốt) văn : điều này chứng tỏ sự ra đời muộn màng của chữ này – có tác giả cho rằng chữ trà xuất hiện từ thời Đường [3] (“Ngữ Lâm Thú Thoại” trang 571) – có tác giả còn cho năm sinh của chữ trà là 725 SCN (xem thêm chi tiết). Một số học giả khác như L. Wieger cho rằng chữ trà gồm bộ thảo và chữ dư (ta) 余 hài thanh (bỏ một nét ngang)(xem thêm chi tiết). Thuyết Văn Giải Tự cũng không ghi dạng trà này. Quả đúng như thế, theo Vận Hội (Khang Hy trích ra) thì trà là

【韻會】茗也。本作荼,或作,今作茶。

[ Vận Hội ] mính dã . Bổn tác đồ , hoặc tác trà , kim tác trà

Hay đồ chính là âm ... Xem toàn văn

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

Trà là đồ uống rất phổ thông ở Việt Nam, còn gọi là (nước) chè. Phần này ghi nhận một cách tổng quát các cách gọi trà khác nhau như mính, dành dành, giả, thiết, suyễn, tuyển, thuấn, sá … và âm cổ hơn của trà là đồ; Sau đó là các dạng từ song tiết như qua lô, cao lô, quá (qua) la, cao hộ .. cho đến rất nhiều dạng từ ghép như du đông, khổ đồ, khổ trà, suyễn trà, trà suyễn, trà mính … Đây là không kể các từ ghép tự nhiên và dễ hiểu hơn như Mạt Lị Hoa trà (Jasmine tea), Hồng trà, Bạch trà, Hoàng trà … Người viết sẽ cố gắng ghi lại các chữ Hán (sau âm Hán Việt) để tiện việc tra cứu về sau, nhất là các bạn đọc muốn tra cứu sâu xa hơn nữa. Tìm hiểu về trà trở nên lý thú không những vì lá trà có hơn 700 chất hoá học, mà còn các cách gọi và dùng trà ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Vấn đề trở nên đặc biệt hơn khi các từ đồ-trà/chà-chè lại có thể liên quan đến ... Xem toàn văn

Trà tạo (Trà Kinh – P4)

Trà tạo (Trà Kinh – P4)

Phàm hái trà thảy vào giữa tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư.

Măng trà nảy trên đất màu lạn thạch, dài bốn năm tấc, như vi, quyết đơm chồi, nhân lúc hơi sương chưa tỏa mà hái lấy. Chồi trà mọc trong lùm cây áng cỏ, thời cây có ba, bốn, năm cành, nên chọn cành vươn trội ra mà hái.

Vào ngày có mưa không hái, trời quang nhiều mây cũng không hái. Trời tạnh ráo thì hái, sau ấy chưng chín, giã nát, đập thành hình, sấy khô, xiên thành xâu, đóng gói. Trà khô thảy cậy mấy công đoạn ấy cả.

Trà có muôn hình vạn trạng. Sơ lược mà nói, có loại dúm dó như ủng của người Hồ (Nguyên chú: tựa vằn vệt do dùi mà ra vậy), có loại gấp nếp như thịt ức trâu núi, có loại lại ngoằn ngoèo như mây nổi đầu non, có loại lại gờn gợn như gió vờn bến nước, có loại như kẻ làm gốm lấy nước mà lắng đất bùn, trơn tru nhẵn bóng (Nguyên chú: Lắng, tức là lấy nước gột bùn cho sạch vậy), cũng lại có loại như dải đất vỡ hoang, gặp ... Xem toàn văn

Trà cụ (Trà Kinh – P3)

Trà cụ (Trà Kinh – P3)

Doanh (giành) : còn gọi là “lam” (làn), là “lung” (lồng), là “cử” (sọt), là thứ đồ đan bằng tre, đựng được năm thăng, hoặc có cái đựng một đấu, hai đấu, ba đấu. Trà nhân địu nó để hái trà vậy. (Nguyên chú: “Hán thư” có câu “Hoàng kim mãn doanh, bất như nhất kinh” tức “Dẫu có bạc vàng đầy cả sọt, chẳng bằng kinh sử một vài pho”. Nhan Sư Cổ chú: “Doanh, là đồ tre nứa, có thể đựng được bốn thăng.”)

Táo : thứ bếp không nóc (không ống khói).

Phủ (nồi) : dùng loại miệng bằng.

Tăng (chõ) : hoặc bằng gỗ, hoặc bằng đất, bên eo phết bùn. Lấy lam làm vỉ, dùng lạt buộc chặt. Thoạt mới đem chưng, bỏ trà vào vỉ, khi đã chín thời bỏ ra. Phủráo, thì đổ vào tăng. (Nguyên chú: Tăng không thắt lưng mà phết bùn.) Lại dùng cành cây hình ba chạc khuấy cho đều, phân tán măng và chồi trà đang đun, cho trà khỏi mất chất.

Chử cữu (chày cối) : còn gọi “xác”, thứ dùng thường xuyên là tốt nhất.

Quy (khuôn) : còn gọi là “mô”, là “quyền”, làm bằng sắt, hoặc ... Xem toàn văn

Trà Nguyên (Trà Kinh – P2)

Trà Nguyên (Trà Kinh – P2)

Trà, giống cây quý ở phương Nam vậy. Thân cao một thước, hai thước cho tới vài chục thước. Ở vùng Ba Sơn, Hiệp Xuyên có giống cây hai người ôm mới đặng, đốn xuống mới ngắt được lá. Cây này tựa cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành), hoa như hoa tường vi trắng, quả như quả binh lư (quả cọ), nhị như nhị đinh hương, rễ như rễ hồ đào. (Nguyên chú: Qua lô sinh trưởng ở vùng Quảng Châu, tựa trà ở vị đắng chát. Binh lư thuộc họ bồ quỳ, giống nó cũng như trà vậy. Hồ đào và trà, rễ thảy mọc ngầm, xuyên lớp đá vụn, mầm trổ bên trên.)

Chữ “trà” hoặc thuộc bộ thảo, hoặc thuộc bộ mộc, hoặc thuộc cả thảo lẫn mộc. (Nguyên chú: Thuộc bộ thảo thì viết, chữ này thấy trong sách “Khai Nguyên văn tự âm nghĩa”; thuộc bộ mộc thì viết, thấy trong sách “Bản thảo”; còn thuộc cả bộ thảo và mộc thì viết thành “đồ”, chép trong sách “Nhĩ nhã”.) Tên cây ấy, một gọi là “Trà” , hai gọi là “Giả” , ba gọi là “Thiết” , bốn gọi là ... Xem toàn văn

Về tác giả Lục Vũ (Trà Kinh – P1)

Về tác giả Lục Vũ (Trà Kinh – P1)

Quẻ Tiệm, quẻ thứ năm mươi ba trong Kinh Dịch, có câu “Hồng tiệm vu lục, kỳ vũ khả vi nghi, cát” (Chim hồng dần bay lên non, lông vũ có thể làm nghi sức, tốt lành). Lời của quẻ ấy suy ra có nghĩa rằng: bậc hiền nhân đặt mình nơi cao viễn, thoát vòng tiến thoái, ngoài cuộc no say; một sợi hồng mao tuy chẳng có cái tài lương đống, nhưng cũng có cái dụng lâu dài. Xem như chữ “nghi” trên kia chẳng phải là “nghi biểu”, là “mô phạm” cho muôn đời đó ư! Lục Vũ tự gieo quẻ mà đặt lấy tên họ cho mình như vậy.

Lục Vũ (733-804), một tên là Tật, tự Hồng Tiệm, lại tự Quý Tỳ, hiệu Đông Cương tử, người Cảnh Lăng (nay Thiên Môn, Hồ Bắc) Phục Châu thời Đường. Thuở nhỏ bị bỏ rơi, tăng Trí Tích chùa Long Cái qua cầu Cổ Nhạn, nghe tiếng hài nhi gào khóc trong bụi sậy bèn đem về nuôi trong chùa. Ông từ nhỏ hiếu học, tính tình điềm đạm, sớm hun đúc trong tư tưởng Phật Nho, coi khinh quyền quý, yêu chuộng thiên nhiên, chẳng muốn ... Xem toàn văn

Trà thánh Trung Hoa: Lục Vũ

Trà thánh Trung Hoa: Lục Vũ

Lục Vũ (733 – 804), tự là Hồng Tiệm (季疵), xưng Tang Trữ Ông, tên hiệu khác là Cảnh Lăng Tử, Đông Cương Tử, Trà Sơn Ngự Sử. Ông còn có tên khác là Tật, hiệu Quý Tì. Người Cảnh Lăng, Phức Châu thời nhà Đường (nay là thành phố Thiên Môn, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc). Ông là người có kinh nghiệm sống phong phú, học vấn sâu rộng, có nhiều sáng tạo trong các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Kí kịch, Âm vận, Phương chí, Thư pháp…Tuy nhiên, ảnh hưởng được người đời sau nói đến nhiều nhất của ông lại là nghiên cứu về trà. Ông suốt đời yêu thích trà, đã viết cuốn sách chuyên nghiên cứu về trà là: Trà Kinh đây là bộ sách lý luận Trà học chuyên môn đầu tiên trên thế giới. Lục Vũ được người đời sau tôn lên là Trà thánh, đó là một trong mười vị thánh trong lịch sử Trung hoa.

Cuộc đời

Lục Vũ là người có tính khôi hài, đã từng có thời là diễn viên hề. Ông không thích làm quan, chỉ thích đóng cửa đọc sách. Ông có quan hệ thân thiết ... Xem toàn văn

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề