Trang chủ

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

Đầu năm Cọp đọc về trà (chè)

[1] – so với thành ngữ Trung (Hoa) thường gặp bây giờ hơn là 茶余飯后 trà dư phạn hậu : phạn là cơm thay vì tửu 酒 là rượu ; Các thành ngữ này đều hàm ý thời gian dư giả. Văn hoá Trung Hoa có nhiều ca dao tục ngữ liên hệ đến trà như trà phạn vô tâm, hàm ý không tha thiết đến việc ăn uống (mất ăn mất ngủ); Trà lai thân thủ, phạn lai trương khẩu chỉ sự sống không có nghề nghiệp (nghĩa đen là trà đến thì đưa tay ra lấy, cơm đến thì há miệng ra ăn); Trà hồ trang thang viên hàm ý có tài nhưng không bộc lộ được …v.v… Trà còn được dùng làm động từ (ẩm trà 飲茶 uống trà) như trong cách dùng trà thoại 茶話 (uống trà và bàn luận/đàm thoại).

Trà là đồ uống rất phổ thông ở Việt Nam, còn gọi là (nước) chè. Phần này ghi nhận một cách tổng quát các cách gọi trà khác nhau như mính, dành dành, giả, thiết, suyễn, tuyển, thuấn, sá … và âm cổ hơn của trà là đồ; Sau đó là các dạng từ song tiết như qua lô, cao lô, quá (qua) la, cao hộ .. cho đến rất nhiều dạng từ ghép như du đông, khổ đồ, khổ trà, suyễn trà, trà suyễn, trà mính … Đây là không kể các từ ghép tự nhiên và dễ hiểu hơn như Mạt Lị Hoa trà (Jasmine tea), Hồng trà, Bạch trà, Hoàng trà … Người viết sẽ cố gắng ghi lại các chữ Hán (sau âm Hán Việt) để tiện việc tra cứu về sau, nhất là các bạn đọc muốn tra cứu sâu xa hơn nữa. Tìm hiểu về trà trở nên lý thú không những vì lá trà có hơn 700 chất hoá học, mà còn các cách gọi và dùng trà ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Vấn đề trở nên đặc biệt hơn khi các từ đồ-trà/chà-chè lại có thể liên quan đến An Dương Vương, vua nước Âu Lạc với thủ đô tại (thành) Cổ Loa, một giai đoạn lịch sử quan trọng trong thời bình minh lập nước và dựng nước của chúng ta. Ngược dòng thời gian, trong ca dao tục ngữ của tiếng Việt còn ghi nhận khá nhiều về trà như trà dư tửu hậu [1], nay chè mai chén … Hay

Chè ngon ngọt giọng, thuốc ngon quyện đờm

Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc

Làm trai biết đánh tổ tôm

Uống chè Mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều.

Chú tôi hay tửu hay tăm

Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa…

Chữ trà xuất hiện 3 lần trong truyện nôm Thuý Kiều

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình (câu 256)

Khi hương sớm khi trà trưa (câu 1297)

Xuân Thu cắt sẵn hai tên hương trà (câu 1924)

Nàng từ lánh gót vườn hoa (câu 1925)

…v.v…

[2] – tác giả Mondal khảo cứu nhiều về trà – như bài viết “Tea” của Mondal, T.K. (2007) trong Pua, E.C.; Davey, M.R.. Biotechnology in Agriculture and Forestry. 60: Transgenic Crops V. Berlin: Springer, trang 519–535. ISBN 3540491600.

Loạt bài về trà này chỉ cố gắng chú trọng đến các phương diện ngữ âm học cho thấy khả năng danh từ trà (chè) có nguồn gốc phương Nam chứ không phải từ phương Bắc (Trung Hoa) mà nhiều người lầm tưởng. Có học giả như T. K. Mondal [2] (2007), dựa vào các nghiên cứu khoa học, còn đề nghị là nguồn gốc của cây trà nằm trong vùng Đông Nam Á – chính xác hơn là khu vực hay giao điểm của vĩ độ 29 Bắc và kinh độ 98 Đông (thuộc tỉnh Tứ Xuyên bây giờ) – và từ đó lan truyền qua 52 nước khác… Ngược dòng lịch sử, ta hãy nghe Khổng Tử/KT (551– 479 TCN) chỉ dạy học trò như sau :

“… người Bách Việt sống ở phía nam sông Dương Tử có tiếng nói, cách sống, truyền thống đạo đức và ẩm thực riêng biệt … Họ chuyên về trồng lúa gạo, thành ra rất khác với dân ta (TQ) thường trồng lúa mì và cây kê. Họ uống nước từ một loài cây trong rừng gọi là trà. Họ thích nhảy múa …”

Mạnh Tử (372 -289 TCN), môn sinh của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử), cũng có nhận xét về trà trong sách “Cáo Tử – Thượng” 告子-上 như sau

舍其梧檟,養其樲棘

Xá kỳ ngô giả, dưỡng kỳ nhi cức

(Tạm dịch) bỏ cây ngô đồng và trà để trồng cây nhị và cây gai

Như vậy là ở Sơn Đông thời Mạnh Tử, trà không được phổ thông như tình hình trồng trà ở phương Nam – để ý Mạnh Tử không dùng chữ đồ, trà mà dùng chữ giả.

Lão Tử (khoảng 600-517 TCN) từng xem trà là một thành phần tạo thành thuốc trường sinh bất tử, một loại ngọc thuỷ … Cho đến thời Hoa Đà 華佗, là vị lương y danh tiếng thời Đông Hán và được coi như là ông tổ của Đông Y, ông từng nhận xét rằng

《食論》“苦茶久食益意

“Thực Luận” khổ trà cửu thực ích ý tư

(Tạm dịch) ăn/uống trà lâu ngày sẽ sáng trí (thông minh)

Rõ ràng là trà đã từng phổ thông ở miền nam Trung Quốc theo lời KT. Ngoài ra, Lục Vũ năm trong Trà Kinh (760 SCN) cũng nói rõ là “… cây trà là loại cây lớn từ phương Nam – cao đến một, hai hay tới vài chục thước (xích 尺) …”.

Truyền thuyết trà nói về Thần Nông – ông tổ nông nghiệp, tổ nghề gốm sứ và nghề y dược của Trung Quốc/TQ – thường được nhắc tới là

<<神農本草經》說:“神農嘗百草,一日遇七毒,遇茶而解”

“Thần Nông Bổn Thảo Kinh/TNBTK” thuyết : ” Thần Nông thường bách thảo, nhất nhật ngộ thất độc, ngộ trà nhi giải – (Tạm dịch) “Thần Nông Bản Thảo Kinh” viết rằng một ngày Thần Nông trúng độc sau khi nếm cả trăm loại cỏ (dược thảo/herb) và phải dùng trà để giải độc (antidote). TNBTK là dược kinh đầu tiên của Trung Quốc soạn thời Tây Hán; Cũng theo truyền thuyết là vào năm 2737 TCN ông nếm trà đầu tiên qua những chiếc lá chè bị cháy và gió thổi vào vạc nước sôi của ông … Chính Thần Nông đã phát hiện ra nước (uống) trà theo Lục Vũ (Trà Kinh).

1. Giới thiệu tổng quát

Tên khoa học của cây chè là Camellia sinesis – dựa vào tên của giáo sĩ giòng Tên Joseph Kamel (Camellia) và tên gọi bằng tiếng La Tinh của Trung Quốc (Sinesis):

Giới (regnum) : Plantae

(không phân hạng) : Angiosperma

(không phân hạng) Eudicots

Bộ (ordo) : Ericales

Họ (familia) : Theaceae

Chi (genus) : Camellia

Loài (species) : C. sinensis

Ngoài vườn trước của nhà người viết (Melbourne, Úc) thật ra có loài cây chè này (Camellia japonica) cả mấy chục năm mà mãi đến gần đây mới ‘nhận diện’ là loài và họ (trà/chè) của chúng ! Loài cây này rất thường gặp ở Úc, trong loài này lại có cả ngàn loại lai giống (hybrids) có hoa rất đẹp …

Nguồn: Lý Học Đông Phương

Bài kế tiếp: Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Chuyên đề:

Các bài viết khác

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề