Trang chủ

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân Đài Loại Ngữ và Trà

Vân đài loại ngữ (VĐLN) viết về trà trồng trên núi Am Thiền, Am Giới, Am Các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá nước ta… Uống vào mát tim, phổi, giải khát, ngủ ngon … Hoa, nhị chè có hương thơm tự nhiên

VĐLN cũng trích Trà Kinh [7] ” … trà là một loại cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành) …”. Nhận xét của Lê Quý Đôn cũng khá phù hợp với lời ghi nhận trong ” Đồng Quân Thái Dược Lục ” 桐君采藥錄: một tác phẩm cổ đại về Trung y, trích Trà Kinh, Trà Sự (chương 7)

… Hựu nam phương hữu qua lô mộc , diệc tự mính , chí khổ sáp , thủ vi tiết trà , ẩm diệc khả thông dạ bất miên . Chử diêm nhân đãn tư thử ẩm , nhi Giao Quảng tối trọng , khách lai tiên thiết , nãi gia dĩ hương mạo bối ….

(Tạm dịch) Còn phương Nam có cây qua lô – cũng giống như trà (mính) rất đắng chát, nghiền thành mạt (bột) trà, uống thì suốt đêm không ngủ được. Dân chúng hai vùng Giao (Châu) và Quảng (Châu) thích loại trà này nhất, nếu khách lại thì đem ra đãi trước nhất sau đó thì thêm các hương vị (rau cỏ) khác ….

Học giả Lê Quý Đôn (1726-1784) đã ghi nhận cụm từ song tiết qua lô (hay qua la) rất đáng chú ý : nhiều tài liệu khác như Quảng Bác Vật Chí, Thái Bình Ngự Lãm … đã dẫn chứng các dạng từ song tiết [8] như qua lô 瓜蘆, cao lô 皋蘆, quá (qua) la 過羅, cao hộ 皋户 … Do đó ta có thể phục nguyên một dạng âm cổ của trà là *k-la (u); Dạng này phù hợp với tiếng Việt cổ hơn : tiếng Việt cho tới thời Việt Bồ La (1651) vẫn còn duy trì những tổ hợp phụ âm bl- ml- tl- như blang (trăng), tláng (trắng) … Ngay cả trong cách viết chữ Nôm còn có dạng cách lâu (*klâu/klu là trâu – tiếng Mường Bi là tlu) và ba lăng (blăng là trăng)

ngạc hoá trăng , trời … cho ra dạng zăng, zời hay giăng, giời …

Thành ra quá trình ngạc cứng hoá (đ-tr/kl > gi-) cũng có thể sinh ra dạng giả 檟 : tên gọi cây trà thời cổ đại. Theo Nhĩ Nhã thì giả là loại trà đắng. Cũng có thể một dạng xát hoá của trà là âm sá 詫, tuy có nghĩa là khoe khoang, nhưng một nghĩa cổ nữa là trà. Điều này có thể giải thích phần nào vì một dạng âm cổ của sá là đố – so với dạng đồ (âm cổ của trà)

<集韻> 都故切,音妒

<Tập vận> đô cố thiết , âm đố

Điều này cũng gợi ý rằng các dạng đồ, đố … chỉ là cách ghi âm gần đúng của một tiếng nước ngoài, như dạng *kla/u đã đề nghị bên trên. Có tác giả cho rằng trà thời Hán còn viết là giới 价 jià BK đọc gần như là giả 檟 : điều này cũng cho thấy khả năng ký âm (gần đúng) của chữ Hán. Có tài liệu cho rằng đồ đọc thành trà vào thời Hán, nhưng dựa vào Nhĩ Nhã thì đồ và giả (trà) đã có mặt trước đó (thời Chu Công) và cho thấy giao lưu văn hoá và ngôn ngữ trong vùng có thể từng đã xẩy ra. Dạng cổ *kla/u cũng phù hợp với một dạng cổ của tên thành Cổ Loa (theo Uỷ Ban Khoa Học Xã Hội – Hà Nội) là *klu hay thành Chủ, với các dạng đơn âm hoá Kha Lu, Kim Lu, Cổ Loa, Kẻ Loa … So sánh rất thuận lợi với dạng âm cổ phục nguyên của trâu là *klu/tlu với các biến âm Trửu/Sửu, Chu/Châu.

Tóm lại, dạng âm cổ *kla (u) có thể tạo thành một nhóm từ đơn tiết liên hệ qua các dạng đồ, đố, trà – chè, giả, giới, sá … Tương phản với các tên (cổ) gọi trà như suyễn, mính, thiết … Có thể của những dân tộc cổ đại với ngôn ngữ khác nhau đã giao lưu văn hoá, cũng như các nghĩa hơi khác nhau của nhiều loại trà (đắng, non, già, hương thảo …) làm cho dễ nhầm lẫn; Ngày nay, các loại trà đều có liệt kê đầy đủ đặc tính như DNA, hình thái, danh pháp … Nên dễ xác định chính xác loại trà và từ đâu ra.

Thêm vào đó là tiếng Việt vẫn còn duy trì các âm cổ đại như đồ cùng với các âm Trung Cổ như trà khiến ta phải xem lại một số vấn đề như nguồn gốc âm trà hay An Dương Vương Thục Phán.

Phụ chú :

[7] – trích từ bản dịch VĐLN của Lê Quý Đôn – cùng biên dịch Trần Văn Giáp, Trần Văn Khang, Cao Xuân Huy – NXB Văn Hoá Thông Tin (Hà Nội, 2006). Một điểm đáng nhắc ở đây: Trà Kinh là loại cẩm nang về trà, do Lục Vũ (733-804) đời Đường (618-907) soạn, khoảng 7000 chữ gồm 55 trang và 10 chương. Các học giả đời sau bắt chước truyền thống Trà Kinh để soạn thêm các loại sách như Trà Luận, Trà Ký, Trà Đạo … cho thấy công lao của Lục Vũ không nhỏ, cho nên ta không ngạc nhiên khi ông còn được tôn làm Trà Thánh và thờ trong miếu đường. Myōan Eisai (明菴栄西, Minh Am Vinh Tây 1141-1215) là nhà sư Nhật, học trò của Hư Am Hoài Sưởng 虚庵懷敞 (ở Cảnh Đức Tự 景德寺). Người ta tin rằng Vinh Tây thiền sư là người đầu tiên đem trà xanh vào Nhật Bản; Sách của ông viết về trà là tài liệu thứ hai (mongraph) sau Trà Kinh khoảng 400 năm, không thấy Ấn Độ có các tài liệu về trà xưa như vậy. Trà Kinh góp phần không nhỏ trong quá trình chính thức hoá việc uống trà cũng như cách viết trà cho tới ngày hôm nay; Xem thêm bài viết sắp in ra “Between Classical and Popular: The Book of Tea and the Popularisation of Tea-Drinking Culture in the Tang China” ISSN: 0022-3840 của GS Jerry C. Y. Liu (có thể đọc trên mạng)

Cuốn này cho ta nhiều dữ kiện về các cách trồng, nấu và uống trà vào thời cổ đại; Ngoài ra các tên gọi khác nhau của trà cũng là nguồn dữ kiện quan trọng để phục nguyên âm cổ của âm trà. Các bạn đọc có thể tham khảo cuốn Trà Kinh bằng tiếng Trung (Hoa) trên mạng.

[8] – so sánh với cách phiên âm (đơn âm hoá) từ các tiếng ngoại quốc đa âm như tiếng Phạn krosa क्रोश là câu/cù lô xá 拘 盧 舍 (đơn vị chiều dài thời cổ Ấn Độ), tiếng Anh club là câu lạc bộ 俱樂部 (jü4 yuê4 bu4 BK), tiếng Pháp crème thành cà rem/cà lem (kem), sông Cửu Long 九龍 và *krong (dạng tiền Nam Á của sông) .

Nguồn: Lý Học Đông Phương

— Hết —

Chuyên đề:

Các bài viết khác

Đóng

Menu

Danh mục

Chuyên đề